LÝ DO, SỨ MỆNH

Nơi kết nối cộng đồng quản lý năng suất, chất lượng; Nơi chia sẻ KIẾN THỨC và KINH NGHIỆM THỰC TẾ về quản lý theo chuẩn mực quốc tế, như: ISO 9000, ISO 14000, OHSAS 18000, ISO 22000, ISO 27000, 5S, Kaizen, TQM, Lean, 6 Sigma... SỨ MỆNH: Giúp cho 10.000 DOANH NGHIỆP chuẩn hóa quy trình, vận hành tự động. Giúp 10 triệu NGƯỜI làm việc hiệu quả và THÀNH CÔNG hơn!

Thursday, 5 January 2012

BÍ QUYẾT VẬN DỤNG 5S VÀ 4D ĐỂ THÀNH CÔNG TRONG CUỘC SỐNG

Ngày nay, trong quản lý, doanh nghiệp áp dụng 5S đã gặt hái được rất nhiều lợi ích từ việc cắt giảm chi phí, tăng năng suất và hiệu quả kinh doanh. Trong cuộc sống, mỗi con người chúng ta cũng có thể vận dụng 5S để thành công. Xin được giới thiệu đến các bạn một số Bí Quyết để các bạn tham khảo 

5S là mô hình quản lý chất lượng hàng hóa hiện đại, được áp dụng nhiều trong các công ty lớn của Nhật. Còn 4Dnhững tố chất cần thiết của một doanh nhân do các chuyên gia kinh tế Canada nghĩ ra. Song nếu biết vận dụng khéo léo mô hình này để quản lý bản thân, bạn sẽ có một cuộc sống Lành mạnhThành đạt.

5S - Công cụ phát triển cá nhân Lành mạnh:
1. Seiri (Sàng lọc): Con người luôn phải đối mặt với những sự đánh đổi. Vì thế, học cách chấp nhận những gì mình có và biết cách phân loại, lựa chọn cái gì phù hợp nhất là nội dung của quy tắc này. Để làm được điều đó, một tinh thần thoải mái và tỉnh táo là vô cùng cần thiết.  
2. Seiton (Sắp xếp): ngày nay, nhiều người vẫn thường xuyên bị “quá tải” và có giờ giấc sinh hoạt không khoa học bởi không biết bố trí, sắp xếp công việc hợp lý. Điều quan trọng là cần có một kế hoạch và thời gian biểu rõ ràng.

3. Seiso (Sạch sẽ): Thỉnh thoảng hãy dành thời gian cho việc sắp xếp lại đồ đạc trong phòng và quét dọn chúng. Ngoài ra, luôn nghĩ tới những điều tốt đẹp, có một môi trường sống lành mạnh và an toàn.

4. Seiketsu (Săn sóc): Hãy nghĩ đến việc nghỉ ngơi. Ngay cả máy móc cũng cần phải được bảo dưỡng định kỳ kia mà! Bạn đừng nghĩ những buổi đi chơi hàng tuần với bạn bè là lãng phí thời gian.  
5. Shisuke (Sẵn sàng): Một cỗ máy được lựa chọn kỹ càng, dụng cụ ngăn nắp, sạch sẽ, thường xuyên được bảo dưỡng là đã có thể sẵn sàng hoạt động tốt. Đảm bảo 4 quy tắc này là bạn đã có đủ những yếu tố để sẵn sàng khởi động cho một mùa học mới.

4D - Những tố chất cần thiết của Doanh nhân Thành đạt:

1. Desire (Khát vọng): Hoài bão của bạn là gì? Không trả lời được câu hỏi này đồng nghĩa với việc bạn buông rơi tương lai của mình.

2. Drive (Động lực): Có ước mơ, có hoài bão, vậy cái gì khiến bạn thực hiện nó? Hiểu rõ “động cơ” hành động sẽ giúp bạn tăng tốc nhanh chóng.

3. Discipline (Kỷ luật): Đừng quá khắt khe với bản thân nhưng cũng đừng “nuông chiều” chính mình. Sống có kỷ luật sẽ rèn cho bạn đức tính kiên trì và bản lĩnh.

4. Determination (Quyết tâm): Bạn đã có khát vọng? Vậy hãy quyết tâm để thực hiện nó cho bằng được.

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Những năm gần đây, khi nói đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong các ngành sản xuất, mọi người trong doanh nghiệp thường quan tâm đến các việc phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường cùng với những kế hoạch marketing tốn kém nhưng ít ai đặt câu hỏi cái gì tạo ra thương hiệu? Cái gì sẽ cung cấp cho thị trường đã mở rộng mà nếu không có chúng, mọi chi phí để tạo dựng thương hiệu, mở rộng thị trường sẽ trở nên lãng phí - Đó chính là những sản phẩm được sản xuất với một chi phí tốt nhất, chất lượng phù hợp với nhu cầu của khách hàng và đáp ứng được thời hạn giao hàng.

-     Đã có bao nhiêu doanh nghiệp thật sự quan tâm đến các phương pháp phát hiện các lãng phí trong sản xuất và có thể đề xuất, thực hiện được các giải pháp giảm chi phí sản xuất phù hợp, hiệu quả? Các doanh nghiệp đã đánh giá, xác định được mức độ lãng phí trong hoạt động sản xuất của mình chưa?

-    Có bao nhiêu giám đốc doanh nghiệp đã nhìn nhận đúng về vai trò của bộ máy quản lý sản xuất trong hoạt động của doanh nghiệp? Hay là giao khoán cho cán bộ quản lý sản xuất mà trong số đó, thử hỏi có bao nhiêu cán bộ quản lý sản xuất có được những kiến thức về quản lý? Hay đa số xuất thân từ các ngành kỹ thuật, chưa qua đào tạo về quản lý? - Họ đang quản lý sản xuất hoàn toàn dựa vào “kinh nghiệm”.

-    Các vị giám đốc quan tâm đến những cải tiến nhỏ của cán bộ, công nhân hay phâng lớn chỉ thích quan tâm đến những giải pháp lớn mang tính “đổi mới”? Có ai đã từng đặt câu hỏi và có lời giải đáp về tình trạng kém hiệu quả của các “phong trào” cải tiến sáng kiến trong doanh nghiệp, so sánh nó với chương trình Kaizen của Nhật?

-    Các nguồn lực vật chất trong sản xuất (nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, tài chính, nhân lực), được các doanh nghiệp đầu tư đã được hoạch định tốt và sử dụng hiệu quả chưa? Đó chính là bài toán cần giải nhằm nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất từ đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

-    Việc đánh giá, khen thưởng nhân viên đang sử dụng các tiêu chí nghiêng về “kết quả” đạt được hay “hiệu quả” đạt được?

-    Hiện nay, tại các doanh nghiệp, việc ứng dụng các công cụ, phương pháp quản lý trong sản xuất còn thiếu và yếu, điều này xuất hiện ở cả những doanh nghiệp đang hoạt động trong các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc gia chứ không riêng gì ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ. 

Giải pháp như thế nào?
Để giải quyết được các tồn tại nêu trên, các doanh nghiệp nên và cần quan tâm, đầu tư nhiều hơn vào việc nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ quản lý sản xuất cũng như các cán bộ nghiệp vụ liên quan. Các giám đốc điều hành doanh nghiệp cũng cần đánh giá và nhìn nhận lại vai trò, vị trí của bộ máy sản xuất trong doanh nghiệp. Việc trang bị và hỗ trợ cho cán bộ quản lý ứng dụng những phương pháp, công cụ quản lý tiên tiến, phù hợp với tình trạng, trình độ, năng lực của doanh nghiệp chắc chắn sản xuất sẽ hiệu quả hơn, cũng có nghĩa là doanh nghiệp sẽ đạt được những lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

     Để biết thêm chi tiết về giải pháp quản lý sản xuất trong doanh nghiệp, vui lòng liên hệ với Công ty CP TOPMAN www.TopManJsc.com hoặc Chuyên gia tư vấn 0422 310 689,  0989 979 434, HieuISO@gmail.com

Wednesday, 4 January 2012

Những người làm thay đổi diện mạo khoa học chất lượng thế giới - Phần 2

Thay đổi không bỗng dưng tự xảy ra một cách vô cớ. Nó xảy ra bởi có ai đó xuất hiện cùng những thách thức và khiến mọi người phải suy nghĩ theo nhiều cách khác nhau. Thế giới chất lượng chắc hẳn có người thay đổi cuộc chơi, VPC xin giới thiệu sáu chuyên gia hàng đầu về khoa học chất lượng, những người đã góp phần làm thay đổi diện mạo của chất lượng trên thế giới. Đó là Philip B. Crosby, W. Edwards Deming, Armand V. Feigenbaum, Kaoru Ishikawa, Joseph M. Juran, và Walter A. Shewhart. Tiếp theo phần 1 và phần 2 đã giới thiệu, ban biên tập xin giới thiệu phần cuối của bài viết về hai chuyên gia Joseph M. Juran, Walter A. Shewhart. 

Joseph M. Juran (1904-2008)

Joseph M. Juran là một nhà tư vấn về quản lý chất lượng của thế kỷ 20. Ông là người đã làm thay đổi cách thức kinh doanh của nhiều công ty và cách suy nghĩ của họ về chất lượng. "Tôi đã đóng góp cho một nền khoa học mới: Quản lý chất lượng," Juran trả lời trong cuộc phỏng vấn cuối cùng của ông với QP vào năm 2004. "Tại thời điểm đó, tôi không nhận thức được tôi đang đóng góp cho nó, nhưng khi nhìn lại, tôi tin rằng đó chính là điều tôi được mọi người nhớ đến sau khi ra đi."
Juran cũng được biết đến vì đã:
  • Bổ sung thêm khía cạnh con người vào quản lý chất lượng. Thay vì chú trọng vào mặt thống kê, Juran muốn bao hàm cả khía cạnh con người của chất lượng.
  • Quy tắc Pareto, hay quy luật 80-20, mà Juran áp dụng vào chất lượng nói rằng 80% các vấn đề đều xuất phát từ 20% nguyên nhân, và rằng việc quản lý phải tập trung vào 20% đó.
  • Bộ ba học thuyết của Juran - triết lý này chỉ ra rằng ba nhân tố được vạch ra để quản lý chất lượng là: lập kế hoạch, kiểm soát và cải tiến.
Ông tốt nghiệp trường đại học Minnesota với tấm bằng kỹ sư điện và bắt đầu công việc là một kỹ sư tại Western Electric ở Cicero, IL, trước đây là bộ phận sản xuất của AT&T.
Ở đây, Juran làm việc tại phòng thống kê điều tra và cuối cùng trở thành Trưởng phòng quản lý chất lượng. Ông dần được thăng chức và chuyển đến Western Electric/ trụ sở chính của AT&T tại thành phố New York.
Trong suốt Thế chiến thứ hai, ông được nghỉ phép tạm thời để chuyển sang làm việc cho Phòng quản lý thuê và cho mượn vũ khí chuyên thu mua và cho thuê vũ khí, thiết bị và tiền cho quân đồng minh ở thế chiến thứ hai. Công việc của Juran tại Washington, D.C. liên quan đến việc tìm ra những phương thức giúp cải thiện hoạt động mua bán, dự thảo ngân sách và giải quyết những rắc rối trong công việc giấy tờ trong chính phủ.
Sau khoảng thời gian làm việc tại Washington, D.C., Juran chuyển hướng và bắt đầu giảng dạy về kỹ thuật công nghiệp tại trường đại học New York. Một thời gian ngắn sau đó, ông bắt đầu công việc của một nhà tư vấn tự do và nghiên cứu sâu hơn về quản lý chất lượng. Đối với Juran, chất lượng liên quan đến vấn đề quản lý, con người và giao tiếp giữa con người. Điều cốt lõi là tất cả các vấn đề rắc rối đều xuất phát từ một nguyên nhân gốc rễ: ngại thay đổi hoặc văn hóa an phận.

Vào năm 1951, chuyên luận chất lượng tiêu biểu của Juran được xuất bản lần đầu tiên, Sổ tay về quản lý chất lượng đã khẳng định chắc chắn danh tiếng của Juran là chuyên gia về lĩnh vực chất lượng, là tác giả và người đi đầu trong lĩnh vực quản lý chất lượng.

Chính khoảng thời gian hậu chiến tranh Nhật Bản dần bắt kịp phong trào chất lượng và muốn học hỏi nhiều hơn nữa. Một thời gian ngắn sau khi W. Edwards Deming đến thăm đất nước này, Juran cũng có chuyến đi tới vùng Viễn Đông để chia sẻ kiến thức của ông về quản lý chất lượng.

Những chuyến đi này có vai trò to lớn trong lịch sử thế giới bởi vì đây là hai nhà tư tưởng lỗi lạc về chất lượng có ảnh hưởng vô cùng sâu sắc đến các nhà lãnh đạo kinh tế Nhật Bản, giúp họ thay đổi phương thức quản lý doanh nghiệp. Từ đó, nước Nhật trở thành một cường quốc về kinh tế và chất lượng, và phong trào chất lượng từ đó bắt đầu lan rộng ra khắp thế giới.

Trích lời Juran
  • "Ở Mỹ, khoảng 1/3 những việc chúng ta làm là làm lại những công việc đã làm trước đó.'"
  • "Chất lượng chính là sự phù hợp khi sử dụng."
  • "Nếu xét chất lượng theo nghĩa là không có sai sót, khuyết điểm gì thì mục tiêu lâu dài chính là sự hoàn hảo."
  • "Không có tiêu chuẩn sẽ không có nền tảng logic để quyết định hay thực hiện."
  • "Quan sát nhiều công ty khi hoạt động, tôi không thể đưa ra một ví dụ nào mà ở đó những kết quả tuyệt vời sẽ bị lãng quên nếu không có vai trò cá nhân lãnh đạo năng nổ của những nhà quản lý cấp cao."
  • "Tất cả những hoạt động quản lý đều nhằm hướng đến thành tựu đột phá hoặc nhằm kiểm soát. Những nhà quản lý chỉ phải thực hiện hai việc này thôi, mà không gì khác nữa."

Walter A. Shewhart (1891-1967)

Ông được biết đến như là cha đẻ của ngành kiểm soát chất lượng thống kê, Walter A. Shewhart đã kết hợp thành công những nguyên tắc của thống kê, kỹ thuật và kinh tế, và áp dụng lý thuyết thống kê vào công việc để giải quyết những yêu cầu của ngành công nghiệp. Người ta cho rằng những việc làm của Shewhart đã dẫn đến cuộc cách mạng chất lượng ở đầu thế kỷ 20 và khởi đầu ngành nghề về chất lượng.
Shewhart nhận bằng đại học và bằng thạc sĩ của trường đại học Illinois, và ông cũng nhận học hàm tiến sĩ về vật lý của trường đại học California ở Berkeley vào năm 1917. Ông dạy ở hai trường đại học Illinois and California, và ông từng có thời gian ngắn là Trưởng Khoa Vật lý tại trường Wisconsin Normal ở La Crosse, ngày nay được biết đến là trường Đại học Wisconsin-La Crosse.
Từ năm 1918 đến năm 1924, Shewhart là kỹ sư điện tại phòng thí nghiệm Western Electric và phòng thí nghiệm điện thoại Bell. Sau đó, ông phục vụ tại Bộ chiến tranh, Liên hợp quốc và chính phủ Ấn Độ, ông cũng hoạt động tích cực tại Hội đồng nghiên cứu quốc gia và Học viện thống kê thế giới. 
Là thành viên danh dự đầu tiên của ASQ, Shewhart được biết đến nhiều nhất vì đã phát triển biểu đồ kiểm soát, tuy đơn giản nhưng là một công cụ vô cùng hiệu quả thể hiện được bước khởi đầu để tiến tới cái mà Shewhart gọi là "công thức của nền tảng khoa học giúp bảo đảm việc kiểm soát kinh tế."
"Shewhart tái tạo lại những mô hình mang tính chất lý thuyết bằng cách đánh số vào ba thẻ viền kim loại khác nhau," Ellis R. Ott từng viết để tưởng nhớ đến Shewhart vào năm 1967. "Sau đó ông dùng những bát ăn thông thường trong nhà bếp - bát Shewhart - để giữ từng bộ thẻ vì những mẫu khác cỡ nhau được lấy ra từ ba nhóm người khác nhau. Đó chính là cái bát; và nó đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ý tưởng và hình thành nên những phương pháp được tổng quát trong biểu đồ kiểm soát của Shewhart."
Công trình nổi bật của ông vào năm 1931, Kiểm soát tính kinh tế chất lượng sản phẩm, được coi là lời giải thích thấu đáo và hoàn chỉnh về nguyên lý cơ bản của kiểm soát chất lượng.
Vào năm 1939, ông viết cuốn Phương pháp thống kê từ quan điểm kiểm soát chất lượng. Trong cuốn sách này lần đầu tiên ông thảo luận về khái niệm giải quyết vấn đề. Khái niệm này cuối cùng đã trở thành nền tảng cho chu trình: lập kế hoạch - thực hiện - kiểm tra - tiến hành, quy trình bốn bước để cải tiến chất lượng. Khái niệm này thường được biết đến dưới tên gọi là chu trình chất lượng Shewhart và sau đó là Chu trình Deming sau khi W. Edwards Deming giới thiệu khái niệm này tại Nhật Bản và phổ biến phiên bản của riêng ông. 
Shewhart còn được nhớ đến bởi sự đam mê chân thành của ông trong công việc và sự quan tâm đến những vấn đề khác nữa. "Là một người đàn ông, anh lịch thiệp, quý phái, không bao giờ ngạo mạn, không bao giờ đánh mất phẩm giá của mình," Deming nói. Ông là người đã gặp Shewhart tại Western Electric và coi ông là một nhà cố vấn dày dạn kinh nghiệm. "Ông từng thất vọng và bực bội khi nhiều tác giả ở lĩnh vực thống kê toán học không hiểu về quan điểm của ông." -M.E.

Trích lời Shewhart
Nói về việc kết hợp giữa khoa học và chất lượng, Shewhart đã từng nói: "Cả khoa học thuần túy và khoa học áp dụng đều dần thúc đẩy yêu cầu về tính chính xác và đúng đắn xa hơn nữa. Tuy nhiên, khoa học áp dụng, đặc biệt trong việc sản xuất hàng loạt những bộ phận máy móc có thể thay thế được, thậm chí còn chính xác hơn cả khoa học thuần túy ở những vấn đề đòi hỏi sự chính xác và đúng đắn." 
Theo VPC

Ai làm thay đổi diện mạo chất lượng thế giới? Phần II

Armand V. Feigenbaum (1922-)

Khi nói đến chất lượng thì khó mà không nhắc tới Armand V. Feigenbaum, người sáng tạo ra thuật ngữ Kiểm soát Chất lượng Toàn diện - ngày nay được biết đến là Quản lý Chất lượng Toàn diện (TQM) và góp phần phát triển nó trong hơn 60 năm qua. 

Kiểm soát chất lượng toàn diện - nền móng của việc quản lý hiện đại - được áp dụng rộng rãi như một triết lý hoạt động rõ ràng trong tất cả các ngành kinh tế. Thành công thương mại của nó là không thể chối bỏ được khi có một số lượng lớn những người ủng hộ triết lý này trong cộng đồng kinh doanh toàn cầu. 
Feigenbaum là một trong những kỹ sư đầu tiên sử dụng ngôn ngữ quản lý, ôÂng cũng là một trong những chuyên gia chất lượng đích thực trên thế giới. Vào năm 1937, ông bắt đầu sự nghiệp tại General Electric (GE) ở chức phận là thợ học việc sản xuất dụng cụ và tập sự quản lý trong nhóm tuốc bin, động cơ và máy biến thế. 
Trong thế chiến thứ hai, GE là nhà cung cấp chính cho quân đội và Feigenbaum - vào độ tuổi 23 - đóng vai trò quan trọng trong những nỗ lực này; ông điều hành việc kiểm soát chất lượng. Để ghi nhận thành tựu sớm có của ông, ASQ đã làm một huy chương khắc tên ông để công nhận những chuyên gia trẻ tuổi, những người gặt hái những thành quả đột phá như vậy. Huy chương Feigenbaum được trao tặng cho những chuyên gia ở độ tuổi trước 35 thể hiện những phẩm chất tiêu biểu của người lãnh đạo, chuyên nghiệp và có tố chất về quản lý chất lượng, và những việc làm của họ đã và sẽ trở thành lợi ích nổi bật cho loài người.
Năm 1958, Feigenbaum được thăng chức làm quản lý cấp cao tại trụ sở đầu não của tập đoàn GE tại New York. Bắt đầu từ vị trí này, ông đã phát triển, quản lý hoạt động sản xuất và những nỗ lực cải tiến chất lượng của công ty trên toàn thế giới.
Ông làm việc tại GE cho đến khi về hưu vào năm 1968. Trong những năm tháng làm việc tại đây, Feigenbaum học chuyên ngành kỹ thuật tại trường cao đẳng Union ở Schenectady, New York, và sau đó học thạc sĩ về kỹ thuật và làm tiến sĩ kinh tế tại học viện công nghệ Massachusetts. 
Trong suốt 31 năm làm việc tại GE, Feigenbaum đã giúp sáng lập ra Học viện Chất lượng Quốc tế. Vào thời gian đó, ông viết cuốn sách bán chạy nhất của mình, Kiểm soát chất lượng toàn diện. Lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1961, và nay được ấn bản lại lần thứ tư, cuốn sách này mô tả những nguyên lý về chất lượng toàn diện, đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ chính và là đóng góp vĩ đại nhất trong sự nghiệp của Feigenbau.
Ngoài việc tên của ông được đặt cho huy chương của ASQ, Feigenbaum còn nhận được rất nhiều giải thưởng và huy chương bởi những nỗ lực về chất lượng của ông. Giải thưởng mới nhất được trao vào năm 2008, khi ông được xướng danh là người dành Huy chương quốc gia về công nghệ và đổi mới, và được công nhận vì sáng tạo ra nguyên lý về chất lượng toàn diện và ảnh hưởng của nó đến xã hội. 
Thậm chí bây giờ, ở tuổi 9S0, Feigenbaum vẫn tiếp tục phát triển những lý thuyết chất lượng cùng với em trai của mình là Donald, tại công ty của họ là General Systems Co. ở thành phố quê nhà Pittsfield, MA. A.V. Feigenbaum giữ cương vị tổng giám đốc điều hành, công ty phục vụ các khách hàng trên thế giới, chuyên thiết kế các hệ thống kỹ thuật và cung cấp độc quyền về những hệ thống TQM. 
Trích lời Feigenbaum
  • "Đặc điểm quan trọng nhất của một chương trình chất lượng tốt là nó có thể quản lý được chất lượng tận gốc."
  • "Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống hiệu quả. Nó là sự kết hợp giữa phát triển chất lượng, duy trì chất lượng và nỗ lực cải tiến chất lượng của nhiều nhóm khác nhau trong cùng một tổ chức để thúc đẩy sản xuất và dịch vụ ở nhiều cấp độ nhằm thỏa mãn đầy đủ yêu cầu của khách hàng."
  • "Chất lượng là tập hợp tất cả đặc tính của sản phẩm và dịch vụ từ tiếp cận thị trường, kỹ thuật, sản xuất và bảo hành mà thông qua đó sản phẩm và dịch vụ được sử dụng sẽ đáp ứng được mong đợi của khách hàng." 
Kaoru Ishikawa (1915-1989)

Kaoru Ishikawa có lẽ được biết đến nhiều nhất vì tên của ông được đặt cho một công cụ chất lượng: Biểu đồ Ishikawa, hay còn được gọi là Biểu đồ Xương cá hoặc Biểu đồ Nhân quả. Là một trong bảy công cụ chất lượng cơ bản, biểu đồ này chỉ ra nhiều nguyên nhân có thể nảy sinh của một vấn đề hay ảnh hưởng nào đó và nó thường được sử dụng ở giai đoạn động não. 

Nhưng Ishikawa còn gặt hái được nhiều thành công hơn nữa ngoài việc phát triển khái niệm Biều đồ Xương cá. Ông tốt nghiệp trường đại học Tokyo với tấm bằng kỹ thuật hóa chất ứng dụng và sau đó quay trở lại dạy học ở cương vị phó giáo sư. Ishikawa viết 647 bài báo và 31 cuốn sách, trong đó có hai cuốn được dịch sang tiếng Anh: Giới thiệu về quản lý chất lượng, Kiểm soát chất lượng toàn diện là gì? và Con đường của Người Nhật. 
Ishikawa tham gia vào Nhóm các nhà nghiên cứu chất lượng tại Hiệp hội các Nhà Khoa học và Kỹ sư Nhật Bản (JUSE) vào năm 1949, phát triển và dạy khóa học kiểm soát chất lượng cơ bản đầu tiên của nhóm. Tại JUSE, ông bắt đầu tìm hiểu sâu về kiểm soát chất lượng. 
Ishikawa là nhà tiên phong về chất lượng tại Nhật Bản. Ông có trách nhiệm chính trong việc dịch những bài học thủa ban đầu của W. Edwards Deming và Joseph M. Juran thành một phương pháp tiếp cận về cải tiến chất lượng. Những nội dung này được thay đổi một cách đặc biệt để dành cho người Nhật.
Ông cũng là người tham gia vào những nỗ lực nhằm phát triển những ý tưởng về chất lượng trong ngành công nghiệp Nhật Bản và người tiêu dùng. Trong hơn 30 năm, Ishikawa đảm nhiệm cương vị là chủ tịch Hội đồng Kiểm soát Chất lượng của Hội nghị Quốc gia tại Nhật bản và đóng vai trò chủ chốt trong việc mở rộng phạm vi của hội nghị này.
Một thành tựu quan trọng khác của Ishikawa là phát động phong trào Nhóm Chất lượng tại Nhật Bản vào 1962. Nỗ lực này bắt nguồn từ niềm tin của Ishikawa rằng tất cả người lao động đều phải tham gia vào những nhóm cải tiến chất lượng để tăng cường năng lực cá nhân của công nhân và cải thiện quy trình làm việc. 
Ông cũng cho rằng tất cả mọi công việc được thực hiện phải có những hành động ngăn chặn và đúng đắn để gợi mở và giải quyết những vấn đề theo dòng chảy từ quan điểm thấu hiểu khách hàng, nhằm tạo ra cách thức hoạt động mang lại lợi ích nhiều nhất có thể so với đồng vốn bỏ ra. Ý tưởng và việc sử dụng những Nhóm Chất lượng(QCC) này phát triển không chỉ ở Nhật Bản mà còn lan rộng sang hơn 50 quốc gia khác nữa. 
Trong khi ý tưởng tập trung vào khách hàng là vẫn nguyên lý cơ bản và dần trở thành một quy chuẩn thì Ishikawa là người chỉ rõ rằng khách hàng chỉ là lý do duy nhất để một doanh nghiệp tồn tại.
Biểu đồ xương cá và QCC là một vài trong số những công cụ quan trọng mà Ishikawa phát triển, nhưng vai trò cốt yếu của ông chính là giúp tạo ra một chiến lược chất lượng cụ thể cho Nhật Bản. Đây có lẽ là đóng góp quan trọng nhất. Phương pháp tiếp cận của người Nhật chú trọng vào sự tham gia rộng rãi về chất lượng - không chỉ từ lãnh đạo đến nhân viên trong một tổ chức, mà còn là từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc của vòng đời sản phẩm.
Ishikawa mất năm 1989, nhưng sự nghiệp và huyền thoại về ông vẫn còn mãi. Vào 1993, ASQ đã lập nên Huy chương Ishikawa. Giải thưởng này, được trao tặng hàng năm, nhằm công nhận những cá nhân hoặc nhóm mà công trình của họ có tác động tích cực đến khía cạnh con người của chất lượng. 
Hơn thế nữa, ý tưởng của Ishikawa về "Cách mạng tư duy" - những ý tưởng mới về chất lượng có thể giúp hồi sinh nền công nghiệp - tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tư tưởng về chất lượng. Khái niệm giải quyết những vấn đề thực tiễn trong khuôn khổ triết lý rộng lớn hơn là điều gì đó mà các chuyên gia về chất lượng cần tiếp tục thực hiện. 
Trích lời Ishikawa
  • "Thất bại là hạt giống của thành công."
  • "Các công ty tồn tại trong một xã hội vì mục đích làm thỏa mãn con người trong xã hội đó."
  • "Một công ty không tốt hơn cũng không xấu hơn những người lao động mà nó có."

Monday, 5 September 2011

HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG: AI LÀM CHỦ HỆ THỐNG?

Khi các hành vi làm chủ được mong đợi và nuôi dưỡng, những điều kỳ diệu sẽ đến.


Về lý thuyết, chúng ta đều hiểu rằng mọi người đều làm chủ “chất lượng”. Cũng giống như trong an toàn, mọi người đều có trách nhiệm thực hiện các biện pháp an toàn và báo cáo về những điều kiện thiếu an toàn. Tuy nhiên, vẫn có các bộ phận chuyên trách an toàn chịu trách nhiệm thiết lập các chính sách và thủ tục cũng như tiến hành các hoạt động kiểm tra định kỳ. Họ cũng tập hợp và báo cáo về các chỉ số an toàn như là tại nạn và sự cố. Thành viên của bộ phậ an toàn luôn cập nhật với những thiết bị an toàn mới nhất, những thay đổi về quy định pháp luật, so sánh với những thông lệ tốt nhất trong ngành. Những nhà quản lý xem xét các báo cáo và chỉ số này một cách nghiêm túc bởi họ chính là người chịu trách nhiệm cao nhất về một môi trường làm việc an toàn.
Điều này cũng tương tự như trong Hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL). Mọi người đều có trách nhiệm cá nhân trong việc thực hiện những thực hành sản xuất tốt hiện hành nói chung và một cách cụ thể là tuân thủ quy trình. Bộ phận đảm bảo chất lượng chịu trách nhiệm thiết lập và đo lường hiệu lực của HTQLCL. Họ thực hiện đánh giá nội bộ đình kỳ và báo cáo các chỉ số của hệ thống chất lượng. Các phát hiện được báo cáo đến đội ngũ quản lý bởi vì họ chính là những người phải chịu trách nhiệm cuối cùng về việc đảm bảo các sản phẩm được sản xuất ra ở tình trạng được kiểm soát và phù hợp với những quy định hiện hành về thực hành sản xuất tốt.
Tuy nhiên, hãy không đề cập đến những lý luận mang tính khái quát mà xem xét rất cụ thể, vì đó dường như chính là chỗ mà HTQLCL bị phá vỡ trong thực tiễn. Điều này cần được thực hiện với khái niệm về “làm chủ” và có một người – được định danh – cho mỗi yếu tố của HTQLCL, có trách nhiệm làm chủ yếu tố cụ thể đó và thể hiện các “hành vi làm chủ” đã được quy định.
Theo chủ kiến của tác giả, việc tạo ra một môi trường nơi hành vi làm chủ được xác định và chờ đợi là một phần cực kỳ quan trọng trong chiến lượng duy trì sự tuân thủ một cách bền vững.
Vậy thế nào là những hành vi làm chủ? Chúng ta hãy cùng nhau xem xét một số ví dụ cụ thể:
Làm chủ các quy trình (hệ thống). Người làm chủ có trách nhiệm đảm bảo rằng những quy trình thuộc yếu tố của HTQLCL của mình được duy trì cập nhật với những quy định pháp luật và những thực hành tốt nhất trong ngành. Họ không chờ cho đến khi có các phản hồi tiêu cực từ các cơ quan quản lý nhà nước hoặc từ hoạt động đánh giá nội bộ mới xác định được vấn đề hoặc có động lực để cải tiến hệ thống.
Làm chủ quá trình áp dụng. Người làm chủ chịu trách nhiệm đảm bảo rằng những yếu tố của HTQLCL được triển khai. Vì lợi ích tốt nhất của mình, người làm chủ cần biết rằng tất cả các đối tượng nhân viên cần được đào tạo về quy trình cụ thể đã được xác định, và rằng nội dung của quy trình đã được đưa vào trong chương trình hướng dẫn công việc của nhân viên. Ví dụ, người làm chủ quy trình xử lý khiếu nại cầm đảm bảo rằng mọi nhân viên có khả năng sẽ tiếp nhận một khiếu nại về sản phẩm đã được đào tạo. Ngoài ra, cũng không phải là điều bất thường nếu người làm chủ quy trình trực tiếp thực hiện đào tạo với vai trò là chuyên gia trong lĩnh vực của mình. Thực tế là, những người làm chủ các quy trình cần được được xác định là một đối tượng cho chương trình đào tạo “Đào tạo giảng viên”.
Làm chủ các chỉ số đánh giá hoạt động. Người làm chủ phải có trách nhiệm xác định các chỉ số đánh giá hoạt động tốt nhất có thể cho việc thể hiện mức độ mà hệ thống được quản lý, cũng như các vấn đề mà hệ thống phát hiện. Người làm chủ sẽ làm người đầu tiên phát hiện ra các xu hướng xấu và báo cáo đến cấp quản lý. Người làm chủ cũng là người trình bày các chỉ số hệ thống đến hoạt động xem xét của lãnh đạo.
Làm chủ các khuyến nghị. Người làm chủ chịu trách nhiệm tìm ra giải pháp cho vấn đề liên quan thông qua việc tham vấn những người sử dụng để biết được những khó khăn trong áp dụng. Khi trình bày các chỉ số hoạt động trong xem xét của lãnh đạo,  người làm chủ đồng thời đề xuất các khuyến nghị. Trong nhiều trường hợp, không nhất thiết phải chờ sự chấp thuận của cấp quản lý để triển khai các giải pháp. Ví dụ, người làm chủ quá trình bảo dưỡng phòng ngừa sẽ là người đầu tiên phát hiện ra xu hướng sự cố, nhưng phải cùng với giám đốc sản xuất để xác định một lịch bảo dưỡng phù hợp với lịch sản xuất. Khi đó họ có thể cứ triển khai và thông báo đến quản lý cấp trên.
Làm chủ tri thức. Người làm chủ là chuyên gia trong lĩnh vực của mình. Công ty luôn hỗ trợ việc đào tạo liên tục cho người làm chủ để đảm bảo rằng những người này luôn được cập nhật với phát triển mới nhất trong lĩnh vực của mình. Người làm chủ sẽ chủ động tìm kiếm các cơ hôij đào tạo. Khi công ty cắt giảm ngân sách đào tạo, họ thường thuộc đối tượng ngoại lệ không nằm trong phần ngân sách bị cắt giảm. Người làm chủ chia sẻ tri thực để không ngừng nâng cao mức năng lực chung. Họ là người phải trình bày hệ thống giải quyết vấn đề cũng như trả lời các câu hỏi trong các cuộc thanh/kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước.
“Làm chủ” không có nghĩa là tách riêng hay tự chủ. Tuy nhiên, trong thế giới quản trị doanh nghiệp và quá trình ra quyết định dựa trên hoạt động nhóm và đồng thuận, “làm chủ” và chịu trách nhiệm cá nhân có xu hướng bị mất đi hoặc hoàn toàn mờ nhạt.
Hãy thử hình dung sức mạnh của tổ chức khi các hành vi làm chủ được trông đợi và nuôi dưỡng trong một địa điểm sản xuất cũng như trong toàn tổ chức. Hãy thử hình dung cơ chế cho cải tiến liên tục tại một địa điểm sản xuất và trong toàn tổ chức có thể cho người làm chủ không gian để thúc đẩy các thực hành tốt nhất cho việc tuân thủ.
Hãy liệt kê các yếu tố trong HTQLCL của bạn rồi đưa tên của những người làm chủ vào đó. Lập và triển khai một kế hoạch chiến lược để hỗ trợ và nâng cao các hành vi làm chủ. Khi đó bạn sẽ chứng kiến những điều kỳ diệu sẽ đến.  
Theo QA Pharm

Thursday, 18 August 2011

Quy định kiểm tra, chứng nhận chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản

Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp & PTNT, để thống nhất hoạt động kiểm tra chứng nhận chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, ngày 03/08/2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 55/2011/TT-BNNPTNT kiểm tra, chứng nhận chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản (CL, ATTP) đối với lô hàng thủy sản và sản phẩm thủy sản dùng làm thực phẩm.  



Kể từ ngày 16/9/2011, các đối tượng phải thực hiện theo quy định tại Thông tư là: cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy sản có đăng ký ngành, nghề kinh doanh thực phẩm trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định hiện hành của Việt Nam và tàu cá có công suất máy chính từ 50 CV trở lên,trong đó có các cơ sở có sản phẩm XK và các cơ sở có sản phẩm chỉ tiêu thụ nội địa. Lô hàng XK thuộc diện phải kiểm tra, chứng nhận nhà nước về chất lượng, an toàn thực phẩm theo quy định của Việt Nam và của nước NK.


Các Cơ sở thuộc diện được cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP trong sản xuất, kinh doanh thủy sản lập 01 bộ hồ sơ đăng ký kiểm tra và gửi cho Cơ quan kiểm tra theo phân cấp để được kiểm tra và cấp Giấy chứng nhận ATTP. 
Cơ quan kiểm tra phối hợp với cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký, đăng kiểm tàu cá thực hiện việc thống kê, lập danh sách các cơ sở thuộc phạm vi quản lý theo phân công, phân cấp quy định và thông báo kế hoạch kiểm tra đến các cơ sở bằng một trong các hình thức gửi trực tiếp, fax, email. 
Cũng theo Thông tư này, cơ sở bị thu hồi Giấy chứng nhận ATTP trong 09 trường hợp, trong đó có: Cơ sở đã được cấp Giấy chứng nhận ATTP nhưng có kết quả kiểm tra điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm xếp loại C sau 02 lần liên tiếp; cơ sở đang sản xuất, kinh doanh gây cản trở khi Đoàn kiểm tra thực hiện nhiệm vụ; cơ sở vi phạm quy định về kiểm soát tạp chất, vi phạm quy định về sử dụng hóa chất, kháng sinh cấm, vi phạm quy định về ghi nhãn lô hàng thủy sản… 
Các lô hàng chỉ được phép xuất khẩu khi được sản xuất từ Cơ sở đã được công nhận đủ điều kiện bảo đảm ATTP, đồng thời đáp ứng các quy định về bảo đảm ATTP của các nước nhập khẩu tương ứng; được kiểm tra, cấp giấy chứng nhận CL, ATTP theo quy định của nước nhập khẩu và quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 
Đối với các lô hàng XK có yêu cầu chứng nhận kiểm dịch theo quy định hiện hành, Cơ quan kiểm tra nêu tại khoản 1 Điều 5 Thông tư này thực hiện đồng thời việc kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm và kiểm dịch.
Nội dung kiểm tra điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm của cơ sở bao gồm:
- Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và người trực tiếp tham gia sản xuất kinh doanh về bảo đảm an toàn thực phẩm thủy sản;
- Chương trình quản lý chất lượng;
- Thủ tục truy xuất nguồn gốc sản phẩm;
- Lấy mẫu để thẩm tra hiệu quả hoạt động tự kiểm soát về an toàn thực phẩm của cơ sở khi cần thiết (không áp dụng trong trường hợp Cơ quan kiểm tra là Ủy ban Nhân dân cấp xã). Trường hợp có lấy mẫu thẩm tra, Đoàn kiểm tra phải lập phiếu lấy mẫu kiểm nghiệm có chữ ký của trưởng đoàn kiểm tra và người đại diện có thẩm quyền của cơ sở;
Phương pháp kiểm tra, hướng dẫn đánh giá đối với các cơ sở thực hiện theo Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 14 và Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư này. 

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17/09/2011 và thay thế Quyết định số 117/2008/QĐ-BNN ngày 11/12/2008; Quyết định số 118/2008/QĐ-BNN ngày 11/12/2008; Thông tư số 78/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/12/2009. Hủy bỏ Điều 1, Điều 2 Thông tư số 23/2011/TT-BNNPTNT ngày 06/04/2011; hủy bỏ Điều 3, Điều 4 Thông tư số 47/2010/TT-BNNPTNT ngày 03/08/2010. 
Để được nhận MIỄN PHÍ bản đầy đủ Thông tư số 55/2011/TT-BNNPTNT, hãy gửi mail ngay tới hieuiso@gmail.com, chúng tôi sẽ gửi file thông tư này ngay cho bạn.

Ba khâu đột phá trong Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ (KH và CN) Việt Nam giai đoạn 2011-2020 có nhiệm vụ quan trọng là góp phần cùng cả nước tạo ra lực lượng sản xuất mới, tiên tiến, quan hệ sản xuất tiến bộ, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và tính bền vững của phát triển kinh tế; bảo đảm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.


Ðể thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, Chiến lược phát triển KH và CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020 cũng cần xác định và chỉ ra được những khâu đột phá để tập trung các nguồn lực và giải pháp chính sách thích hợp, nhanh chóng thay đổi môi trường, thiết chế, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong hiệu quả của tổ chức, hoạt động và quản lý KH và CN, làm cho KH và CN thật sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng.

Ðột phá đầu tiên trong Chiến lược phát triển KH và CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020, theo chúng tôi, chính là khâu xác định đúng những yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ở các ngành, các cấp, các địa phương. Cần tập trung nỗ lực và đưa ra cơ chế bảo đảm khả năng xác định trúng các nhiệm vụ, đồng thời sàng lọc, hạn chế thấp nhất những nhiệm vụ bị xác định sai, không đúng tầm. Bên cạnh một số kết quả nổi bật, hiệu quả hoạt động KH và CN chưa cao đang là một trong những tồn tại từ nhiều năm nay mà xã hội và bản thân cộng đồng KH và CN nhìn chung chưa hài lòng. Nguyên nhân của thực trạng này có nhiều, nhưng trước hết và chủ yếu là do khâu xác định nhiệm vụ còn nhiều hạn chế và bất cập. Bản thân lãnh đạo các cấp cũng chưa quan tâm, chủ động đặt ra và đặt trúng các vấn đề thực tiễn trước mắt và trong tương lai cần thiết phải tiến hành nghiên cứu. Phần lớn các doanh nghiệp chưa quan tâm và thật sự cần đến các giải pháp KH và CN cho nên các vấn đề đặt ra cho KH và CN cũng còn chưa thường xuyên và rõ ràng. Phần đông các nhà KH và CN còn hạn chế về tư duy và nhãn quan liên ngành cho nên chủ yếu mới chỉ đề xuất các vấn đề thuộc chuyên ngành hẹp của mình và ở phạm vi tầm hiểu biết của mình, làm cho tính liên ngành của các nhiệm vụ đặt ra còn chưa rõ. Trong điều kiện như vậy, cần tạo ra cơ chế, quy trình bảo đảm xác định đúng tầm và đúng những vấn đề trọng tâm cho nghiên cứu để không lãng phí các nguồn lực, thời gian và công sức của đội ngũ các nhà KH và CN.

Ðột phá thứ hai là, cần tập trung cho các giải pháp về nhân lực và đầu tư tài chính cho KH và CN. Ðây là hai điều kiện cơ bản bảo đảm thực thi các nhiệm vụ KH và CN. Về nhân lực, cần tập trung cho một số loại nhân lực nhất định. Ðó là đội ngũ nhân lực có khả năng đặt ra các vấn đề và nhiệm vụ KH và CN, làm các tổng công trình sư có đủ năng lực thiết kế và chỉ đạo thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ KH và CN lớn mang tầm vóc quốc gia, các nhóm nghiên cứu liên ngành trong thực hiện các nhiệm vụ KH và CN và đặc biệt cần nâng cấp ngay đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý KH và CN. Ðào tạo là giải pháp về lâu dài, nhưng trước mắt có thể dùng các chính sách đặc biệt để thu hút và sử dụng kịp thời lực lượng KH và CN hiện có ở cả trong và ngoài nước. Các chính sách này sẽ nhanh chóng mang lại hiệu quả, ít tốn kém tiền bạc và thời gian hơn là đổi mới công tác đào tạo nhân lực mà thông thường chỉ phát huy tác dụng trong tương lai xa (ít nhất 10 đến 15 năm sau). Chính sách đầu tư và cơ chế tài chính cho hoạt động KH và CN mặc dù đã được đổi mới, nhưng cho đến nay vẫn còn là khâu yếu trong hệ thống bảo đảm nguồn lực và môi trường thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Kinh phí đầu tư cho các hoạt động KH và CN cần được quản lý thống nhất, phân bổ theo cơ cấu hợp lý giữa các nhiệm vụ bảo đảm hạ tầng (đầu tư phát triển), nghiên cứu và phát triển (theo các kênh chương trình, đề tài trọng điểm cấp nhà nước và hệ thống các quỹ), và các khoản chi thường xuyên. Trong đó, ngoài việc bảo đảm đủ kinh phí hỗ trợ đổi mới công nghệ cho khu vực doanh nghiệp cũng cần đầu tư tới ngưỡng cho các nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, tạo dự trữ cho các ứng dụng vào sản xuất và đời sống trong tương lai. Khắc phục những bất cập trong chế độ chi tiêu và thủ tục thanh quyết toán kinh phí thực hiện các nhiệm vụ KH và CN, tạo cơ chế minh bạch về thu nhập để các nhà khoa học có thể đủ sống và làm nghiên cứu một cách trung thực, hiệu quả.

Ðột phá thứ ba là, tập trung xây dựng và tạo cơ chế để phát huy vai trò của các doanh nghiệp KH và CN, bên cạnh cơ chế chuyển đổi các tổ chức KH và CN công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Các doanh nghiệp KH và CN sẽ là nơi gắn kết hoạt động nghiên cứu và phát triển với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc hình thành các doanh nghiệp KH và CN sẽ tạo ra một "kênh" liên kết mới cho các hoạt động KH và CN và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, các doanh nghiệp KH và CN thành lập mới sẽ vừa là loại hình tổ chức KH và CN mới (mang bản chất và hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp) lại vừa là loại hình doanh nghiệp mới (sản xuất, kinh doanh dựa trên tri thức và công nghệ mới). Thực chất, các doanh nghiệp KH và CN sẽ trở thành một lực lượng sản xuất mới đi tiên phong trong sản xuất các sản phẩm và dịch vụ mới, tạo ra các ngành sản xuất mới dựa trên tri thức và công nghệ mới, có khả năng cạnh tranh, tạo ra giá trị gia tăng cao, lợi nhuận cao, từ đó đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, tạo ra nhiều việc làm và phát triển bền vững nền kinh tế. Ðược nuôi sống và phát triển trên nền tảng của ứng dụng tri thức KH và CN, các doanh nghiệp KH và CN sẽ là một trong những nơi đặt ra nhu cầu cụ thể, thiết thực cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, đóng vai trò là trung tâm liên kết trong hệ thống đổi mới quốc gia, hỗ trợ cho các tổ chức KH và CN công lập nhanh chóng chuyển đổi và chuyển đổi thuận lợi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Thông qua hiệu quả hoạt động và đóng góp của các doanh nghiệp KH và CN này sẽ chứng minh thuyết phục nhất cho vai trò nền tảng, động lực của tri thức KH và CN đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng. Cơ chế, chính sách đầu tư phát triển KH và CN trong giai đoạn 2011-2020 do vậy sẽ cần tập trung cho mục tiêu xây dựng và phát huy vai trò của các doanh nghiệp KH và CN, coi đây là khâu đột phá quan trọng trong Chiến lược phát triển KH và CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020.

Nguồn tin: Nhân dân

Phát triển dựa vào khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại

Sau khi được Quốc hội khóa XIII tín nhiệm bầu tiếp tục giữ cương vị Người đứng đầu Chính phủ, đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã có bài viết nêu nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2011 - 2016. Chúng tôi trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của Thủ tướng:

THỰC HIỆN TỐT 3 KHÂU ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC MÀ ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ XI ĐỀ RA LÀ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CỦA CHÍNH PHỦ NHIỆM KỲ 2011 - 2016
Nguyễn Tấn Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ

Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu tổng quát là "Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau".
Chiến lược đề ra 5 quan điểm, 12 định hướng phát triển, hình thành một hệ thống đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... như một chỉnh thể thống nhất, bảo đảm phát triển bền vững. Để tạo tiền đề thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ này, Chiến lược xác định phải đột phá vào ba khâu yếu, hiện đang là những điểm nghẽn, cản trở sự phát triển và nếu giải quyết tốt các khâu này sẽ tạo xung lực mới có sức lan toả mạnh, giải phóng mọi tiềm năng, khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển nhanh và bền vững.

I . Xác định đúng các đột phá chiến lược - bài học từ tiến trình đổi mới

Vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ trước, đất nước ta đứng trước mâu thuẫn lớn giữa tiềm năng và yêu cầu phát triển với thực trạng khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, các ngành sản xuất trì trệ. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới, trong đó quan trọng nhất là đổi mới tư duy mà trước hết là tư duy kinh tế. Trên nền tảng đổi mới tư duy kinh tế, chúng ta đã xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã độc quyền kinh doanh theo kiểu bao cấp, chuyển sang vận hành cơ chế kinh tế thị trường với các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu khác nhau tham gia kinh doanh. Nhờ đó, kinh tế phát triển sống động, đạt tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Sự chuyển đổi cơ chế nêu trên đã giải quyết được mâu thuẫn trong sự phát triển của đất nước và thực sự là một đột phá chiến lược. Từ đột phá có tính mở đường này, chúng ta đã thực hiện thành công Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng, tạo đà cho bước phát triển mới, cao hơn.



Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thông qua chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 - 2010 với ba khâu đột phá: (i) Xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà trọng tâm là đổi mới cơ chế, chính sách nhằm giải phóng triệt để lực lượng sản xuất, mở rộng thị trường trong và ngoài nước; (ii) Tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; (iii) Đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, trọng tâm là cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Sau 10 năm triển khai thực hiện, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng. Đất nước thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Thể chế kinh tế thị trường cơ bản được hình thành, các loại thị trường từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn kết ngày càng tốt hơn với thị trường thế giới. Quy mô giáo dục và đào tạo tăng nhanh, chất lượng nguồn nhân lực có bước cải thiện đáng kể. Cải cách hành chính mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính được triển khai mạnh mẽ và đạt được những kết quả tích cực, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, thực hiện các giao dịch.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cũng còn các hạn chế, yếu kém, đặc biệt là việc tổ chức hiện các khâu đột phá vẫn thiên về hướng tiệm tiến, chưa thực sự quyết liệt và thiếu đồng bộ, sức sản xuất chưa được giải phóng triệt để. Những hạn chế, yếu kém này đang cản trở sự phát triển và để đất nước phát triển nhanh, bền vững, cần phải tập trung sức giải quyết, tháo gỡ. Chính vì vậy, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 xác định ba khâu đột phá, gồm: (i) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; (ii) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; và, (iii) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.

II. Tập trung giải quyết các đột phá chiến lược, tạo tiền đề tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng - Nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2011 - 2016

1. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính
Yêu cầu cơ bản để thể chế kinh tế thị trường phát huy hết mặt tích cực của nó là các yếu tố của kinh tế thị trường hình thành đầy đủ, các loại thị trường phát triển đồng bộ với độ minh bạch cao, được quản lý và giám sát tốt; nhờ đó, thị trường xác lập sự cân bằng động trong phân bố nguồn lực vào các ngành sản xuất và dịch vụ theo tín hiệu thị trường, bảo đảm hiệu quả kinh tế. Thiếu các điều kiện này, thị trường không thể cho tín hiệu đúng, các nguồn lực không thể dịch chuyển thuận lợi và do đó, các chủ thể kinh doanh không thể phát huy được tiềm năng và nền kinh tế không đạt được hiệu quả. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 xác định: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại là tiền đề quan trọng để thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô.
Một tiêu chí quan trọng đo lường sự phát triển của thể chế kinh tế thị trường là mức độ cạnh tranh trong các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ. Cạnh tranh làm bộc lộ khả năng của các chủ thể kinh tế. Trong môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp tham gia thị trường buộc phải phát huy lợi thế so sánh, chuyển lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh; đồng thời, luôn tìm cách tạo lập lợi thế cạnh tranh mới nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, mở rộng thị trường, phát triển sản xuất kinh doanh. Đây chính là triết lý tăng trưởng mới - Tăng trưởng dựa trên sức cạnh tranh.
Nhiệm vụ đặt ra trong nhiệm kỳ 2011 - 2016 là phải tiếp tục hoàn thiện các cơ chế chính sách để các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ, tài chính, chứng khoán, bất động sản, lao động, khoa học công nghệ được tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt, có tính cạnh tranh cao và gắn kết ngày càng tốt hơn với thị trường thế giới, được quản lý và giám sát hiệu quả. Quá trình tạo lập đồng bộ thể chế kinh tế thị trường theo yêu cầu trên đây phải gắn liền với việc hạn chế tối đa độc quyền kinh doanh trên các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Đây là hai mặt của một quá trình không thể tách rời. Phải xác định rõ những ngành nghề mà tính độc quyền còn cao để có chính sách và giải pháp phù hợp, tạo điều kiện cho khu vực tư nhân tham gia kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước, đặt doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, loại bỏ các hình thức ưu đãi và bao cấp còn tồn tại trên thực tế; minh bạch hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo các tiêu chí của doanh nghiệp đăng ký trên thị trường chứng khoán. Đổi mới cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước theo hướng cơ quan hoạch định chính sách không đồng thời thực hiện chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp.
Trong điều kiện các quan hệ kinh tế đã có sự thay đổi cơ bản, toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, các quan hệ kinh tế ngày càng phức tạp và thay đổi khó lường, độ rủi ro và tính bất định tăng lên, không thể thực hiện có hiệu quả các yêu cầu trên đây nếu không xây dựng được một hệ thống thể chế chất lượng cao. Muốn vậy, phải cải cách mạnh mẽ nền hành chính quốc gia trên tất cả các nội dung: thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính và tài chính công gắn với một hệ thống phân cấp hợp lý, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng quản trị công - một trong những điểm yếu trong quản lý ở nước ta. Phải nâng cao tính minh bạch và khả năng dự đoán của chính sách để vừa giảm thiểu sự bất định, độ rủi ro đối với nhà đầu tư, vừa tránh đầu cơ, ngăn chặn tham nhũng và giảm các chi phí giao dịch cho doanh nghiệp. Tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách và thể chế; đề cao vai trò phản biện xã hội và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách và đánh giá hiệu quả thực thi.
Cần thay đổi tư duy và cách tiếp cận khi xác định vai trò của nhà nước và mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường. Phải chuyển mạnh từ nhà nước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển. Trong nhà nước kiến tạo phát triển, chức năng của nhà nước là xây dựng quy hoạch phát triển theo một chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đúng đắn; tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường giám sát để phát hiện các mất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống. Chính vì vậy, Đại hội Đảng lần thứ XI xác định tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính là trọng tâm trong khâu đột phá về thể chế.
Trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phải đặc biệt quan tâm đến bản chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế mà chúng ta xây dựng. Cần có sự nhận thức đúng rằng thị trường hoạt động theo quy luật của nó, thị trường có những mặt tiêu cực và tự nó không bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển. Chức năng này phải là của Nhà nước. Nhà nước bằng quy hoạch, kế hoạch, các chính sách và công cụ điều tiết, hướng các nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực và các vùng miền, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn liền với xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế. Trong 5 năm tới, phải đầu tư cao hơn cho nông nghiệp nông thôn, triển khai có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới, coi trọng phát triển các lĩnh vực văn hóa, làm cho văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực để phát triển kinh tế. Tập trung hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ngày càng rộng mở và hiệu quả, hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả của tăng trưởng.

2. Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ
Chúng ta đang sống trong một thời đại với ba đặc điểm kinh tế lớn chi phối sự phát triển của mỗi quốc gia. Đó là: (i) Khoa học công nghệ phát triển rất nhanh, rất mạnh, hơn bất kỳ một thời đại nào trước đó. Chính sự phát triển này tạo ra làn sóng công nghiệp hóa lần thứ ba và hình thành nền kinh tế tri thức; (ii) Toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, các liên kết kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều, thúc đẩy sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu; cạnh tranh kinh tế diễn ra ngày càng quyết liệt và mỗi quốc gia phải giành cho được ưu thế trong cuộc cạnh tranh đó; (iii) Tình trạng khan hiếm các loại nguyên liệu, năng lượng do sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo được, đòi hỏi con người phải tìm kiếm các dạng nguyên liệu, năng lượng mới, bảo đảm phát triển bền vững.
Những đặc điểm nêu trên làm nổi bật vai trò ngày càng tăng của nguồn lực con người - lợi thế cạnh tranh động trong quá trình phát triển và là nhân tố làm chuyển dịch lợi thế so sánh giữa các quốc gia. Tình hình đó vừa đặt ra yêu cầu vừa tạo điều kiện cho việc thay đổi mô hình phát triển, từ chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác các tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực rẻ nhưng chất lượng thấp sang sự phát triển dựa vào các nhân tố năng suất tổng hợp bao gồm khả năng áp dụng các thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại. Chìa khóa của sự chuyển đổi, nhân tố trung tâm của quá trình này là nguồn nhân lực chất lượng cao. Chiến lược 2011 - 2020 xác định: Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao...; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định để cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Xét đến cùng, đây là khâu quan trọng nhất trong ba khâu đột phá, có vai trò chi phối việc thực hiện các đột phá khác, vì chính con người tạo ra và thực thi thể chế, xây dựng bộ máy, quy hoạch và phát triển kết cấu hạ tầng. Thực hiện tốt đột phá này sẽ làm tăng sức mạnh mềm của quốc gia, tạo ra sức mạnh tổng hợp, có ảnh hưởng quyết định đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng - một quan điểm quan trọng mà Đại hội XI đã xác định.
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy quốc gia nào xây dựng và phát huy tốt nguồn lực con người thì hoàn toàn có thể thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn. Những năm qua, chúng ta đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực và đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, phát triển nguồn nhân lực vẫn còn nhiều bất cập, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn lớn, chất lượng đào tạo thấp, cơ cấu ngành nghề không hợp lý. Chúng ta đang thiếu cả cán bộ quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp; thiếu đội ngũ chuyên gia trong các ngành kinh tế kỹ thuật và công nhân có tay nghề cao. Đây là những trở ngại lớn cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Chiến lược nhấn mạnh, phải đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề. Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội. Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức.
Phát triển nguồn nhân lực vừa là yêu cầu cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài theo tiến trình phát triển của tri thức nhân loại. Trong 5 năm tới, phải tập trung chỉ đạo xây dựng và triển khai chương trình đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Đặc biệt coi trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Lấy nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo làm trục xoay chính, kết hợp với mở rộng quy mô hợp lý. Quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính; thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội.
Điểm nhấn mới trong khâu đột phá này là đặt việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự gắn kết với việc phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ. Điều này thể hiện tính hướng đích của sự phát triển khoa học, công nghệ, bảo đảm chuyển tiềm năng trí tuệ của nguồn nhân lực thành những thành quả ứng dụng và sáng tạo khoa học công nghệ - động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững.
Trong nhiệm kỳ 2011 - 2016, Chính phủ sẽ đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học công nghệ; hướng trọng tâm hoạt động khoa học công nghệ vào phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Ban hành các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, ưu tiên sử dụng các công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường, phát triển kinh tế xanh.

3. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn
Kết cấu hạ tầng là đường dẫn của sự phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện để phân bổ lực lượng sản xuất, thúc đẩy lưu thông hàng hóa. Một hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ sẽ mở rộng không gian phát triển, kết nối các vùng kinh tế, làm tăng tính hiệu quả nhờ quy mô. Trong những năm qua, chúng ta đã huy động nhiều nguồn lực để xây dựng kết cấu hạ tầng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo trên các vùng miền của đất nước. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng vẫn còn yếu kém, lạc hậu, việc quy hoạch xây dựng lại không đồng bộ, đầu tư dàn trải, khả năng kết nối các loại hình vận tải, kết nối giữa các vùng trong nước và với các tuyến vận tải quốc tế còn hạn chế. Quy mô kinh tế ngày càng tăng, quá trình đô thị hoá ngày càng mạnh mẽ càng bộc lộ những bất cập trong kết cấu hạ tầng nước ta, nhất là hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị, làm tăng chi phí, giảm sức cạnh tranh và là một trong những điểm nghẽn tăng trưởng. Chính vì vậy, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 xác định: Xây dựng kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn là một khâu đột phá.

Để thực hiện tốt đột phá này, phải thay đổi cách tiếp cận từ khâu quy hoạch, lựa chọn các ưu tiên đến phương thức huy động nguồn lực và thủ tục triển khai dự án.
Cần xây dựng quy hoạch theo sự phân bố lực lượng sản xuất và bố trí dân cư gắn với quá trình đô thị hoá trên tầm nhìn cả nước. Nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng ở các địa phương là rất lớn. Trong điều kiện nguồn lực có hạn, quyết định của chúng ta không thể dựa vào lòng mong muốn mà phải lựa chọn cái tốt nhất có thể nhằm giải tỏa nhanh các điểm nghẽn vận tải, đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất, trong thời gian ngắn nhất. Trên tinh thần đó, việc phát triển kết cấu hạ tầng giai đoạn 2011 - 2015 sẽ thực hiện theo định hướng sau:
Thứ nhất, tập trung đầu tư tuyến đường bộ Bắc - Nam. Ưu tiên phát triển hệ thống giao thông ở những vùng có dung lượng hàng hóa lớn, các địa bàn thuộc các cực tăng trưởng, kết nối với các vùng miền, với khu vực và quốc tế, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh, thúc đẩy tăng trưởng của cả nước. Hiện đại hóa và nâng cao năng lực các dịch vụ tổng hợp của 3 cảng biển lớn ở 3 khu vực: Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh - Vũng Tàu và Miền Trung; hình thành các trung tâm kinh tế biển lớn. Gắn việc phát triển kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp nông thôn với chương trình xây dựng nông thôn mới; quan tâm giải quyết những yêu cầu bức xúc về sản xuất, lưu thông hàng hóa, đi lại, phòng chống lũ quét trên địa bàn miền núi và vùng đồng bào dân tộc.
Thứ hai, tập trung nâng cấp, phát triển đồng bộ và hiện đại hoá hệ thống hạ tầng các đô thị lớn gắn với bố trí, cơ cấu lại sản xuất và phân bố dân cư. Phát triển nhanh hệ thống giao thông đô thị, nhất là giao thông công cộng. Tập trung giải quyết nạn ùn tắc và úng ngập ở Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ ba, phát triển nhanh hệ thống nguồn và truyền tải điện đi đôi với sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, bảo đảm đủ năng lượng cho nhu cầu phát triển của đất nước và đời sống nhân dân.
Thứ tư, phát triển đồng bộ và từng bước hiện đại hóa hệ thống thuỷ lợi, chú trọng xây dựng và củng cố hệ thống đê biển, đê sông, các trạm bơm, các công trình ngăn mặn và xả lũ. Xây dựng các công trình phòng tránh thiên tai, các khu neo đậu tàu thuyền để giảm nhẹ thiệt hại cho nhân dân. Hiện đại hoá ngành thông tin - truyền thông và hạ tầng công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu phát triển và góp phần nâng cao năng suất lao động.
Chính phủ sẽ tập trung hơn nữa hoàn thiện cơ chế, chính sách đầu tư trong đó tập trung hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực, các quy định về thủ tục đầu tư và mua sắm công. Phải huy động ngày càng nhiều đầu tư của xã hội cho phát triển kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh xã hội hóa việc đầu tư, thực hiện đa dạng hoá hình thức đầu tư, khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoài tham gia phát triển kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ việc thực hiện các phương thức đầu tư hiệu quả như xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao (BT), nhất là phương thức hợp tác công - tư (PPP), đồng thời tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế xây dựng các cơ chế, chính sách mới phù hợp, đồng bộ để phát triển hạ tầng.
Đổi mới quy trình và thủ tục đầu tư nhằm vừa đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án vừa tăng cường chất lượng thiết kế thi công, tăng cường công tác giám sát, bảo đảm chất lượng công trình và hiệu quả đầu tư đi đôi với việc nâng cao năng lực của các đơn vị trong nước.
*
* *
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” theo đúng vai trò nhân dân là chủ nhân của quá trình phát triển, nhất định chúng ta sẽ thực hiện tốt ba đột phá chiến lược, tạo tiền đề có tính quyết định thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020.
Nguồn: VPC

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Top WordPress Themes