LÝ DO, SỨ MỆNH

Nơi kết nối cộng đồng quản lý năng suất, chất lượng; Nơi chia sẻ KIẾN THỨC và KINH NGHIỆM THỰC TẾ về quản lý theo chuẩn mực quốc tế, như: ISO 9000, ISO 14000, OHSAS 18000, ISO 22000, ISO 27000, 5S, Kaizen, TQM, Lean, 6 Sigma... SỨ MỆNH: Giúp cho 10.000 DOANH NGHIỆP chuẩn hóa quy trình, vận hành tự động. Giúp 10 triệu NGƯỜI làm việc hiệu quả và THÀNH CÔNG hơn!

Monday, 1 August 2011

BÍ MẬT CỦA NGƯỜI GIẦU?

Sau một thời gian tìm hiểu về NGƯỜI GIẦU và NGƯỜI NGHÈO, tôi đã khám phá ra một BÍ MẬT! Vâng, một BÍ MẬT lý giải tại sao người giầu ngày càng giầu còn người nghèo vẫn còn nghèo?

Người giầu không phải đơn thuần là họ có nhiều tiền bạc. Tiền bạc chỉ là những điều thể hiện ra bên ngoài. Người giầu bởi vì họ có những yếu tố quyết định ở ngay chính bên trong con người họ. Bạn có biết đó là cái gì chưa? Đó chính là TƯ DUY, họ mang suy nghĩ của người GIẦU. 
Ở bài viết này, tôi trích dẫn ra đây cách suy nghĩ của người giầu và người nghèo để bạn cùng suy ngẫm nhé.
 


17 Suy nghĩ của NGƯỜI GIẦU

TT
Người nghèo khó, thất bại, tiêu cực
Người giàu có, thành công, tích cực
1
Suy nghĩ nhỏ --> Hành động nhỏ -->Kết quả nhỏ.
Suy nghĩ lớn --> Hành động lớn --> Kết quả lớn.
2
Tập trung vào khó khăn, nhìn đâu cũng thấy khó khăn. Vì họ thích tập trung vào khó khăn nên vũ trụ thường gứi…khó khăn đến cho họ!
Tập trung vào mục tiêu, cơ hội nên họ luôn đi giải quyết khó khăn cho người khác và biến nó thành cơ hội cho mình.
3
Đổ lỗi cho người khác, hay kêu ca, oán thán, đổ lỗi cho số phận hay sự thiếu may mắn.
Tự tạo ra cuộc đời và chịu trách nhiệm với bản thân. Slogan: Tôi tạo ra cuộc đời tôi.
4
Đố kị, ghét bỏ người giàu và thành công. Không biết vì nghèo nên họ ghét giàu hay vì ghét giàu nên họ nghèo. Đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả?
Ngưỡng mộ những người thành công và giàu có khác. Họ làm được thì tôi cũng làm được. Họ luôn biết ơn những người thành công vì đã tạo ra con đường thành công để họ đi theo.
5
Kết giao với người nghèo, người thất bại để tìm kiếm sự đồng cảm. Hay nói xấu, chê bai người giàu để bảo vệ cái tôi của mình.
Kết giao với người thành công. Do vậy họ biết được con đường dẫn tới thành công của người giàu và đi theo con đường đó.
6
Ghét bán hàng và quảng cáo, tiếp thị. Họ thường khiêm tốn quá mức (hay thiếu tự tin?) nên  không dám nói cả những điều mình có.
Sẵn sàng tôn vinh giá trị bản thân. Họ thường cho người khác biết họ đang có gì và những khả năng  của họ.
7
Luôn giới hạn bản thân mình. Đối với họ, câu nói thường được dùng là Tôi không làm   được, Tôi không mua được hay Tôi không xứng đáng!
Luôn đứng cao hơn khó khăn của mình. Đối với họ, vấn đề không phải là tầm vóc của khó khăn mà là tầm vóc của chính họ.
8
Để nỗi sợ ngăn cản. Khi va vào nỗi sợ, họ thu mình không dám hành động và đứng xem. Và họ cũng trở thành những khán giả…đứng xem người khác giàu có và hạnh phúc!
Hành động bất chấp sợ hãi. Người giàu luôn có những tham vọng lớn, họ quyết tâm giành được cái họ muốn và chính tham vọng đã giúp họ vượt qua nỗi sợ để hành động.
9
Không biết đón nhận. Họ được giáo dục cho đi thì tốt hơn là đón nhận, do vậy họ luôn mong muốn mình trở thành người “tốt hơn”!
Biết đón nhận. Bạn đã từng nghe Nước chảy chỗ trũng. Tại sao vậy? Đơn giản là vì chỗ trũng là chỗ biết đón nhận!
10
Chọn trả công theo thời gian
Chọn trả công theo kết quả
11
Trú trọng vào thu nhập từ lương. Họ làm việc để trả cho chi phí hiện tại và rơi vào vòng luẩn quẩn thu nhập-chi phí, nên họ phải làm việc…mãi mãi!
Trú trọng vào tổng tài sản: thu nhập lao động, tiết kiệm, sống đơn giản hóa và tạo ra nguồn thu nhập thụ động lớn.
12
Suy nghĩ chỉ một, hoặc cái này hoặc cái kia. Giữa giàu có và hạnh phúc cũng vậy, họ chỉ chọn 1, đó là hạnh phúc.
Suy nghĩ cả hai. Họ luôn hành động để có cả giàu có và hạnh phúc. Như bạn biết đấy, họ đúng là những người rất có tham vọng!
13
Tham gia cuộc chơi để không thua. Với cuộc chơi tiền bạc, họ luôn lo sợ làm sao để không bị mất tiền. Vì họ tập trung vào việc mất tiền nên vũ trụ ủng hộ để họ được...mất   tiền!
Tham gia cuộc chơi để chiến thắng. Giống như trong một trận bóng đá, họ luôn chới với tinh thần tấn công. Vì họ tập trung vào chiến thắng nên vũ trụ thường ủng hộ họ để họ chiến thắng!
14
Không biết quản lý tốt tiền của mình
Biết cách quản lý tốt tiền của mình
15
Mong muốn giàu có
Quyết tâm làm giàu
16
Làm việc chăm chỉ để kiếm tiền
Làm cho tiền làm việc chăm chỉ cho mình
17
Luôn nói tôi đã biết. Như một cốc nước đầy, không ai nói cho họ biết nữa và tầm vóc họ mãi…nhỏ bé!
Luôn học hỏi và phát triển. Tầm vóc của họ ngày càng lớn và lớn hơn tầm vóc mọi khó khăn!


Trên đây, tôi vừa chia sẻ 17 cách suy nghĩ của người giầu được chia sẻ trên đây có thể giúp được gì đó cho cách suy nghĩ hiện nay của bạn cũng như định hướng sự nghiệp của bạn trong tương lai.
Để biết thêm thông tin làm thế nào để thực sự trở lên giầu có? Làm thế nào để doanh nghiệp của bạn vận hành trơn tru? Làm thế nào để doanh nghiệp tự vận hành mà không cần sự tham gia của chủ doanh nghiệp trong vòng 6 tháng? Hãy liên hệ ngay với chúng tôi NGAY HÔM NAY: 
Web: http://bit.ly/aSdYox
Mobi: 0989.979.434
Email: HieuISO@gmail.com

T.Har Eker: TẠI SAO có NGƯỜI GIẦU và NGƯỜI NGHÈO?

“The number one reason most people don’t get what they want is that they don’t know what they want. Rich people are totally clear that they want wealth. They are unwavering in their desire. They are fully committed to creating wealth. As long as it’s legal, moral, and ethical, they will do whatever it takes to have wealth. Rich people do not send mixed messages to the universe. Poor people do.”
 "Nguyên nhân số 1 tại sao hầu hết mọi người không đạt được điều họ muốn là họ không biết họ muốn gì. Người giàu hoàn toàn rõ ràng rằng họ muốn sự giàu có. Họ KIÊN ĐỊNH với khao khát của họ. Họ hoàn toàn CAM KẾT để tạo ra sự thịnh vượng. Họ sẽ LÀM BẤT CỨ VIỆC GÌ để có sự giàu có miễn là hợp pháp, đúng đạo lý và đạo đức. Người giàu không gửi những thông điệp lẫn lộn tới vũ trụ. Còn người nghèo thì lại gửi thông điệp không thống nhất cho vũ trụ."
T.har Eker

Tuesday, 28 June 2011

Chứng nhận 5S: các câu hỏi thường gặp

Khi giới thiệu về 5S, nhiều Lãnh đạo doanh nghiệp, nhà quản lý và cán bộ chuyên trách rất quan tâm và đặt ra những câu hỏi thú vị. Tôi xin tóm tắt ra đây các câu hỏi thường gặp nhất về 5S và chia sẻ một số câu trả lời liên quan. Hy vọng sẽ giải đáp được một số thắc mắc tương tự của anh chị gặp phải khi chuẩn bị triển khai 5S.
 
Câu hỏi 1: Lợi ích khi tham gia chương trình Chứng nhận Thực hành tốt 5S là gì?
Các doanh nghiệp khi đăng kí tham gia vào Chương trình sẽ có những lợi ích sau:
  • Được Hội đồng Chứng nhận Thực hành tốt 5S cấp chứng chỉ Thực hành tốt 5S nếu được thẩm xét là đủ điều kiện theo tiêu chí đánh giá 5S do Hội đồng đưa ra (chứng chỉ có giá trị trong vòng 02 năm kể từ ngày khi trên chứng chỉ)
  • Trong một chu kì 02 năm, hệ thống đánh giá 5S của tổ chức/doanh nghiệp sẽ được đánh giá giám sát 01 lần (vào giữa chu kì, đánh giá dựa trên bộ hồ sơ duy trì 5S của tổ chức/doanh nghiệp)
  • Chương trình hỗ trợ tổ chức/doanh nghiệp nâng cao động lực để duy trì và cải tiến hệ thống 5S hiện hành. Qua các lần đánh giá chính thức và giám sát, đoàn đánh giá (bên thứ ba) sẽ đưa ra các khuyến nghị cải tiến cần thiết cho tổ chức/doanh nghiệp
  • Tạo điều kiện cho tổ chức/doanh nghiệp đi tham quan mô hình 5S tiên tiến của các công ty trong và ngoài nước khác

Câu hỏi 2: Các điều kiện để tham gia Chương trình Chứng nhận Thực hành tốt 5S là gì?
Tổ chức/doanh nghiệp tham khảo bản tiêu chí đánh giá Thực hành tốt 5S do Hội đồng ban hành và xem xét tổ chức/doanh nghiệp của mình đáp ứng được đến đâu. Nhìn chung, nếu đảm bảo tỷ lệ đáp ứng trên 70% các yêu cầu, tổ chức/doanh nghiệp có thể điền vào bản đăng kí tham gia chương trình và gửi bản đăng kí này cùng với hồ sơ 5S liên quan đến Hội đồng Chứng nhận Thực hành tốt 5S. Các thông tin liên quan xin tham khảo thêm Quy định chung của Chương trình.
Trường hợp tổ chức/doanh nghiệp muốn tham gia chương trình nhưng chưa chắc chắn về khả năng đạt được chứng chỉ, tổ chức/doanh nghiệp có thể thỏa thuận với Hội đồng để tiến hành một cuộc đánh giá sơ bộ trước khi đánh giá chính thức để phát hiện và triển khai các điểm còn thiếu so với các yêu cầu đánh giá.

Câu hỏi  3: Chứng chỉ Thực hành tốt 5S có hiệu lực bao lâu?
Chứng chỉ Thực hành tốt 5S có giá trị trong vòng 02 năm. Thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc được ghi trên chứng chỉ. Sau khi chứng chỉ hết hiệu lực, các thủ tục của lần đánh giá đầu tiên sẽ được áp dụng cho tổ chức/doanh nghiệp muốn được đánh giá lại (từ lần thứ hai trở đi).

Câu hỏi 4: Trường hợp doanh nghiệp không đủ điều kiện được xét cấp chứng chỉ trong một lần đánh giá chính thức thì các thủ tục tiếp theo là gì?
Trong trường hợp này, với mục đích là giúp hỗ trợ việc duy trì 5S, tổ chức/doanh nghiệp sẽ có thêm 02-03 tháng (tùy trường hợp) để khắc phục/cải tiến theo các khuyến nghị do đoàn đánh giá đưa ra và làm báo cáo khắc phục/cải tiến (theo mẫu của Chương trình). Sau đó, tổ chức/doanh nghiệp nộp lại báo cáo khắc phục/cải tiến cho Hội đồng. Căn cứ vào kết quả thể hiện trên báo cáo và các nội dung liên quan, Hội đồng sẽ quyết định việc cấp hay không chứng chỉ Thực hành tốt 5S cho tổ chức/doanh nghiệp.

Câu hỏi 5: Hãy cho biết phạm vi đánh giá của Chương trình?
Nhìn chung, các nội dung/khu vực sau sẽ được đánh giá khi tổ chức/doanh nghiệp tham gia vào Chương trình:
  • Chính sách, tài liệu, hồ sơ chứng minh cho việc triển khai, duy trì, cải tiến và khuyến khích hoạt động 5S trong tổ chức/doanh nghiệp
  • Khu vực văn phòng
  • Khu vực sản xuất và/hoặc dịch vụ (dành cho khối dịch vụ hoặc kết hợp cả sản xuất/dịch vụ)
  • Khu vực kho, giao nhận
  • Khu vực chung (phòng họp, nhà ăn, khu vệ sinh, …)
  • Khu vực xung quanh (sân chung, khu vực bảo vệ, vườn cây, hệ thống thoát nước, …)
Câu hỏi 6: Thời gian đánh giá là bao lâu?
Tùy vào phạm vi, địa điểm, số địa điểm được đánh giá mà thời gian đánh giá có thể thay đổi. Thông thường, thời gian đánh giá tại 01 địa điểm hoặc 02 địa điểm nhưng cùng nằm tại một cấp độ hành chính (thành phố, huyện, …) sẽ là 01 ngày. Nếu phạm vi rộng và số địa điểm được đánh giá nhiều (cần nhiều thời gian di chuyển), thời gian đánh giá sẽ thành 02 ngày hoặc hơn.

Câu hỏi 7: Cách thức đánh giá được thể hiện như thế nào?
Trong quá trình đánh giá, các đánh giá viên của Chương trình sẽ sử dụng các cách thức sau để đánh giá hoạt động 5S là hiệu quả hay không:
  • Quan sát tình huống thực tế
  • Sử dụng máy ảnh ghi lại thực tế để làm bằng chứng
  • Trao đổi thông tin với tổ chức/doanh nghiệp và phỏng vấn ngẫu nhiên bất kì cán bộ nào tại các vị trí để xác định rõ những nội dung cần làm sáng tỏ
Câu hỏi 8: Có sự khác biệt lớn nào giữa lần đánh giá 5S đầu tiên và lần đánh giá thứ hai trở đi?
Về mặt thủ tục đăng kí, không có khác biệt nào giữa lần đánh giá đầu tiên và các lần đánh giá sau đó. Về mặt kĩ thuật, các yêu cầu đánh giá của lần đánh giá sau có thể thay đổi so với lần đánh giá trước đó (trường hợp này, tổ chức/doanh nghiệp sẽ được thông báo trước). Tuy nhiên, hoạt động đánh giá 5S tập trung vào việc duy trì 5S nên cơ bản sẽ không có thay đổi nhiều.


Câu hỏi 9: Làm thế nào để xem Quy định chung của Chương trình Chứng nhận Thực hành tốt 5S ?

Để xem được quy định này, bạn chỉ cần gửi mail tới địa chỉ hieuiso@gmail.com, ghi yêu cầu, tên , email và điện thoại liên lạc hoặc gọi điện vào số 0989 979 434, chúng tôi sẽ gửi ngay tài liệu vào email của bạn.


Câu hỏi 10: Làm thế nào tôi có thể liên hệ, mời chuyên gia đào tạo, tư vấn hướng dẫn áp dụng 5S cho doanh nghiệp?
Một trong những mục tiêu của Chương trình Chứng nhận Thực hành tốt 5S là tuyên truyền, quảng bá công cụ cải tiến 5S cho các doanh nghiệp của Việt Nam. Muốn liên hệ, mời chuyên gia đào tạo, tư vấn hướng dẫn áp dụng 5S cho doanh nghiệp, rất đơn giản, bạn chỉ cần nhấc điện thoại lên và gọi ngay cho chúng tôi theo số: 0989 979 434 hoặc gửi email vào địa chỉ: hieuiso@gmail.com.

Thursday, 7 April 2011

Cha đẻ của quản lý chất lượng, ông là ai?

Kiểm soát chất lượng bằng phương pháp thống kê, từ đó, hình thành một triết lý mới về quản lý công việc, W.E. Deming (1900-1993) được xem là "cha đẻ của quản lý chất lượng”.
William Edwards Deming sinh ngày 14/10/1900 tại thành phố Sioux, Iowa, Mỹ.
Không chỉ được tôn vinh là “cha đẻ của quản lý chất lượng”, ông còn được cả thế giới thừa nhận là “một cố vấn trong ngành thống kê học”. Con đường trở thành một nhà thống kê nổi tiếng của Ed Deming rất quanh co nhưng cũng đầy may mắn bất ngờ .
  • Lớn lên trong nghèo khó…
Deming sinh ra và lớn lên trong cảnh nghèo túng.
Khi còn là một cậu bé, mỗi tuần Deming kiếm được 1,25 USD khi làm việc trong một khách sạn. Ngoài ra, cậu bé Deming còn nhận việc thắp sáng 5 ngọn đèn đường bằng dầu hỏa của thị trấn với thù lao 10 USD mỗi đêm .
Có lẽ, hoàn cảnh thời thơ ấu đã ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách tiết kiệm ở Deming. Sau này, khi đã trở thành một chuyên gia, ông luôn chống lại những lề thói lãng phí từ ngay trong quá trình quản lý sản xuất.


William Edwards Deming (14/10/1900-20/12/1993)
Sau khi tốt nghiệp kỹ sư điện tại đại học Wyoming năm 1921, Ed. Deming tiếp tục theo học ngành toán học thêm 3 năm. Năm 1925, ông nhận bằng Thạc sĩ tại trường ĐH Colorado ngành Toán học và ngành Vật Lý. Năm 1928, ông tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Toán Lý tại ĐH Yale.
Trong hai năm 1925 và 1926, trong những tháng hè, Deming đã làm việc tại Nhà máy sản xuất thiết bị điện miền Tây Hawthorne (Western Electric Hawthorne Plant) Tại đó, ông đã gặp GS. Walter A. Shewhart.
Shewhart trở thành người cố vấn đầy kinh nghiệm và đã dạy ông cách ứng dụng thống kê vào tính toán và quản lý quá trình thay đổi. Những học thuyết của Shewhart về kiểm soát sử dụng kỹ thuật thống kê trở thành nền tảng cho công việc sau này của Deming. Hiểu biết rõ những biến động luôn xảy ra trong mọi quá trình sản xuất sẽ trở thành một trong những yếu tố quan trọng trong triết lý của Deming.
Bắt đầu từ năm 1943 và sau đó hai năm, Deming đã triển khai một loạt các khoá học thực nghiệm 8 tuần cho công nghiệp sản xuất vũ khí. Ông dạy các kỹ năng Kiểm soát Chất lượng bằng Thống kê (Statistical Quality Control – SQC) cho các công nhân sản xuất vũ khí, từ việc kiểm soát quá trình thống kê đến vòng tròn Kế hoạch – Thực hiện – Kiểm tra – Điều chỉnh (Plan, Do, Check, Act – PCDA). Những khóa học này đã làm giảm lảng phí và cải tiến chất lượng vũ khí trong suốt thời gian chiến tranh.
Nhưng sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, so với phần còn lại của thế giới, nước Mỹ giống như một con tàu kinh tế không có điểm dừng.
  • Nước Mỹ tự mãn, nước Nhật kiên cường học hỏi...


E. Deming, người truyền bá tư tưởng quản lý chất lượng ở Nhật Bản
Lúc này, nhiều nước có nhu cầu to lớn về các sản phẩm hàng loạt của Mỹ nên các công ty Mỹ không cần phải áp dụng các phương pháp quản lý mới để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Vì thế, học thuyết của Deming về quản lý chất lượng mờ dần rồi biến mất.
Deming đã nhìn thấy sự tự mãn này và cảm thấy buồn vì sự quản lý ngưng trệ và thiếu hiểu biết của những nhà quản lý Mỹ. Khi có quá ít người lãnh đạo ở Mỹ chịu nghe lời khuyên của Deming, ông đã quyết định tìm đến một đất nước chịu nghe và chịu thay đổi: Nhật Bản.
Năm 1947, Deming đã khuyên Đại tướng MacArthur, chỉ huy Lực lượng các Cường quốc Đồng Minh, ứng dụng kỹ thuật thống kê để định hướng cho việc tái thiết Nhật Bản sau Chiến tranh. Cũng trong thời gian này, ông đã có những cuộc tiếp xúc đầu tiên với một vài chuyên gia thống kê Nhật Bản và trở thành một thành viên danh dự của Hiệp hội Thống kê Nhật bản.
Trong nỗ lực khôi phục lại nền kinh tế sau chiến tranh, vào tháng 7/1950, Hiệp hội Kỹ sư và Khoa học gia Nhật Bản (Japanese Union of Scientists and Engineers – JUSE) đã mời Deming sang Nhật để hướng dẫn họ các kỹ thuật kiểm soát thống kê.
Tại Nhật, Deming đã đưa ra 12 bài giảng đầu tiên về Kiểm soát Chất lượng bằng Thống kê (SQC) cho người Nhật. Không giống những giáo trình trước, Deming đã đem các nhà quản trị Nhật nhắm tới khái niệm: Nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ sẽ làm giảm chi phí trong khi gia tăng năng suất và tăng thị phần.
Các nhà máy Nhật Bản đã áp dụng rộng rãi học thuyết này. Người Nhật ngày càng trở nên lão luyện đối với các đòi hỏi của quốc tế về chất lượng sản phẩm. Năm 1960, William Edwards Deming trở thành người Mỹ đầu tiên nhận Huân chương Cao quý Hạng hai (Second Order of the Sacred Treasure) do Thủ tướng Nhật Bản trao tặng.
Chỉ một vài thập kỷ sau, năng suất của nền kinh tế Mỹ có dấu hiệu đi xuống. Đặc biệt, nền sản xuất của Mỹ trong thập niên 1970 hoàn toàn đình trệ. Khi những công ty hàng đầu của Mỹ bị các đối tác Nhật Bản giành lấy thị phần và đối mặt với nguy cơ phá sản thì việc tiến hành những thay đổi là điều bắt buộc. Vì thế, E.Deming lại có đất dụng võ. Trong suốt thập niên 1980, tại Mỹ, ông đã giảng dạy quản lý chất lượng thông qua kiểm soát các quá trình sản xuất theo kỹ thuật thống kê cho các công ty như Ford, Xerox và General Motors.
Tháng 6/1980, Đài NBC làm một bộ phim tài liệu với tựa đề “ Người Nhật làm được, tại sao chúng ta không...?" và phỏng vấn Deming. Đây là một bước ngoặt cho sự nghiệp cố vấn về quản lý chất lượng của ông tại Mỹ. Năm 1987, tức 27 năm sau khi ông được Hoàng gia Nhật Bản trao tặng huân chương cao quý dành cho những đóng góp của ông, Tổng thống Mỹ Reagan đã trao cho Deming Huân chương Nghiên cứu Khoa học Quốc gia (National Medal of Technology)
Năm 1988, ông nhận được giải thưởng vì sự nghiệp khoa học (Distinguished Career in Science award) của Học viện Khoa học Quốc gia (National Academy of Sciences). Ông còn nhận nhiều giải thưởng khác, bao gồm Huy chương Vàng Shewhart (Medal Shewhart) của Hiệp hội Quản lý Chất lượng năm 1956, và giải thưởng Samuel S.Wilks năm 1983 từ Hiệp hộiThống kê Mỹ (American Statistical Association)
Ông là tác giả của vài quyến sách và 200 bài báo. Những tác phẩm tiêu biểu của ông, “Ra khỏi cơn khủng hoảng” (“Out of the Crisis”, 1986), “ Nền Kinh tế mới” (“The New Economics”, 1994) đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau. Hàng trăm, mà có lẽ là hàng ngàn của sách, phim, và những băng ghi hình về tiểu sử của ông, về triết học của ông và những ứng dụng thành công trong quá trình giảng dạy của ông trên khắp thế giới. Trong mười năm, những buổi hội nghị chuyên đề 4 ngày hàng năm của E.Deming thường có khoảng 10.000 người tham gia.
Khách hàng của ông là những nhà sản xuất, các công ty điện thoại, ngành đường sắt, nghiên cứu khách hàng, bệnh viện, công ty luật, các văn phòng chính phủ, các trường đại học…
  • Chất lượng công việc phụ thuộc vào quản lý
Deming chủ trương theo dõi chặt chẻ mọi quá trình sản xuất bằng công cụ thống kê. Bằng công cụ thống kê, người ta sẽ xác định chính xác những nguyên nhân sai lỗi trong quá trình sản xuất để tiến hành khắc phục sai lỗi hoặc cải tiến công việc. Trên cơ sở đó, năng suất và chất lượng sản phẩm, dịch vụ được nâng cao. Bằng cách này, người ta không phải tốn kém nhiều nhưng vẫn duy trì được một bộ máy làm việc hiệu quả, năng suất cao.
W E Deming cha de quan ly chat luong
PDCA-Vòng tròn Quản lý chất lượng của Deming: Lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, kiểm tra và khắc phục sai lỗi
Deming tin rằng 80 – 85% chất lượng sản phẩm, dịch vụ có đạt hay không là do ở vấn đề quản lý.
Trong một lần phải nhập viện, Deming nhận thấy các y tá đều làm việc chăm chỉ. Họ là những y tá được giáo dục tốt nhưng bị hệ thống quản lý tồi làm cho chán nản. Ông biết rằng các bác sĩ, y tá có thể không cần làm việc cực khổ hơn nữa nhưng chất lượng phục vụ vẫn thỏa mãn nhu cầu khách hàng, nếu có thể phá vỡ hệ thống quản lý tồi đang thủ tiêu những nỗ lực làm việc và niềm vui trong công việc của họ. Trong khi đó, một quan chức ngành y tế Mỹ lại nói, chỉ cần nhân viên nỗ lực làm việc hết sức mình là có thể đạt đến chất lượng công việc
Nhưng Deming đã phát biểu “Chúng ta đang bị tàn phá bởi những sự nỗ lực hết mình đó” và ông nói thêm “Những nỗ lực tốt nhất cũng không thay thế được kiến thức.” Ông cho rằng, các nhà quản lý đã nguỵ biện cho sự ngu dốt...


Ed. Deming:"Người Nhật làm được, tại sao chúng ta không...?"
Theo Deming, việc nắm bắt được nhu cầu khách hàng, có một hệ thống ý tưởng, mục đích bất biến và niềm vui trong công việc hàng ngày sẽ luôn giữ vị trí hàng đầu. Những sản phẩm và dịch vụ có những chất lượng tốt và ổn định sẽ đem đến việc làm, sự thịnh vượng và hoà bình.
Ông khẳng định, trong công việc, người lãnh đạo cao nhất là người duy nhất có thể sữa chữa lại những vấn đề trong công tác tổ chức quản lý.
Ở Mỹ, E. Deming được xem là một anh hùng của chất lượng bởi vì sự kiên trì và bền bỉ trong việc thực hiện và làm gia tăng niềm vui trong công việc, vì những chỉ trích của ông về tình trạng không tận dụng khả năng của nhân công bằng các phương pháp quản lý khoa học.
Ông là một trong những người đầu tiên dạy rằng hệ thống được thiết kế như thế nào sẽ đem lại kết quả như thế ấy và người lao động trong hệ thống không phải là những nguyên nhân gây ra sai lỗi.
Các nhà lãnh đạo phải có một tầm nhìn và các nhà quản lý phải thực hiện những bước cần thiết để tái thiết lại hệ thống nhằm cải thiện chất lượng, thoả mãn trong công việc, và giảm thiểu sự lãng phí. Deming phát biểu “Công việc của quản lý sẽ tối ưu hoá toàn bộ hệ thống sản xuất.”
  • Học thuyết Quản lý chất lượng
Học thuyết chất lượng của Deming và những yếu tố cần thiết để nâng cao chất lượng được tóm tắt trong “Hệ thống những kiến thức sâu rộng”. Những kiến thức này đã biên soạn thành 4 yếu tố chính:
• Đánh giá đúng một hệ thống
• Hiểu biết về những biến động trong quá trình thực hiện sản xuất, dịch vụ
• Nguyên lý của kiến thức
• Hiểu biết về tâm lý học và hành vi của con người.
Trong tác phẩm “Thoát khỏi cơn khủng hoảng”, ông đã dưa ra 14 điểm nhằm Quản lý cải tiến chất lượng. Đối với văn hóa Mỹ, những thay đổi như vậy không được chấp nhận dễ dàng. Chính vì vậy đã khiến cho nền công nghiệp Mỹ không đạt được những kết quả ấn tượng như người Nhật đã đạt được.
1. Xây dựng những mục đích bất biến dành cho sự cải tiến sản phẩm và dịch vụ nhằm mục tiêu để có thể cạnh tranh, tồn tại trong giới kinh doanh, và tiếp tục tạo ra công ăn việc làm.
2. Người quản lý phải ý thức được trách nhiệm của mình và đảm nhiệm vị trí dẫn đầu trong mọi thay đổi.
3. Xây dựng kiểm tra chất lượng sản phẩm ngay từ đầu vào.
4. Đầu tư thời gian và kiến thức giúp cải tiến chất lượng và giảm thiểu toàn bộ chi phí. Lợi nhuận được tạo ra bởi các khách hàng trung thành và thường xuyên.
5. Quá trình không bao giờ hoàn toàn tối ưu. Phải luôn luôn cải tiến và hoàn thiện kế hoạch, sản phẩm, dịch vụ. Nâng cao chất lượng và năng suất dẫn đến giảm bớt chi phí đầu tư.
6. Tiến hành các lớp huấn luyện công việc. Đây là những hoạt động hằng ngày của mọi nhân viên trong doanh nghiệp.
7. Huấn luyện cách thức lãnh đạo. Mục tiêu của sự giám sát là giúp đỡ nhân viên, và cải tiến thiết bị và máy móc để làm cho công việc tốt hơn. Sự giám sát trong quản lý, trong việc kiểm tra cũng kỹ lưỡng như việc giám sát các công nhân sản xuất.
8. Nỗi lo sợ bị phạt sẽ dẫn đến tàn phá. Loại bỏ các nguyên nhân gây ra nỗi sợ hãi, nhờ vậy mọi người có thể yên tâm làm việc một cách có hiệu quả hơn cho công ty.
9. Phá vỡ các rào cản giữa nhân viên các phòng ban. Nhân viên của phòng thiết kế, nghiên cứu kinh doanh hay sản xuất phải tạo thành một nhóm làm việc, để cùng nhau nhìn thấy trước những vấn đề có thể xảy ra cho sản phẩm và trong việc sử dụng sản phẩm đó hay dịch vụ đó.
10. Loại bỏ những khẩu hiệu, những lời hô hào và các tiêu chí “khuyết tật ở mức zero” và sự vươn tới mức một năng suất mới. Những câu hô hào chỉ tạo ra các mối quan hệ đối phó, vì phần lớn những nguyên nhân dẫn đến chất lượng và năng suất thấp thuộc về hệ thống và nằm ngoài quyền năng của công nhân viên.
11. Loại bỏ những tiêu chuẩn công việc (định mức) trong các công xưởng, thay thế vào đó bằng sự lãnh đạo khoa học. Loại bỏ quản lý bằng những số, những mục đích bằng con số. Thay vào đó là khả năng lãnh đạo


Trang bìa tác phẩm "Thoát khỏi sự khủng hoảng"
12. Hầu hết các biến đổi đều do hệ thống tạo ra, cần xem xét lại hệ thống. Phê phán, phạt, xếp thứ bực công nhân dưới trung bình có thể phá đi tinh thần đồng đội của công ty. Loại trừ những rào cản đã cướp mất của người lao động lòng tự hào trong nghề nghiệp. Loại bỏ các hệ thống đánh giá hàng năm hay bổ nhiệm nhân viên dựa trên công trạng của họ.
13. Thiết lập một chương trình giáo dục mạnh mẽ và tự cải tiến trong mỗi người. Hãy để cho mỗi người tham gia và tự chọn cho mình một lĩnh vực thích hợp để phát triển.
14. Đặt nhân viên trong công ty luôn làm việc để đạt đến sự thay đổi. Thay đổi là công việc của mọi người.
Trong các bài báo của ông sau khi ông tốt nghiệp ĐH Yale, chủ yếu nêu lên những khía cạnh lý tính của vấn đề, tuy nhiên cũng có vài điểm chứng tỏ mối quan tâm của Deming về phương pháp luận thống kê. Từ một nhà toán lý trở thành một nhà thống kê đã giúp bản thân Deming rất nhiều.


Ngoài ra, kết quả phân tích thực nghiệm trong lĩnh vực vi khuẩn học và hóa học đã giúp Deming có cơ hội tìm hiểu thêm về điều chỉnh thống kê các dữ liệu. Trên tạp chí Triết học, ông đã viết về “Ứng dụng của những hình vuông bé nhất.” Trong tác phẩm của mình-"Điều chỉnh thống kê dữ liệu" (Statistical Adjustment of Data), ông đã kết hợp tất cả các kiến thức mà ông đã học để viết về đề tài này. Hiện nay, tác phẩm này vẫn còn được sử dụng như một tài liệu tham khảo chỉ dẫn cho việc ứng dụng phương pháp tính toán thấp nhất trong nhiều trường hợp khác nhau.
Các công trình nghiên cứu của Ed Deming đã đem lại hiệu quả trong việc cải tiến chất lượng. Và ông được cả thế giới gọi là nhà “tiên tri chất lượng” và là nhà triết học của quản lý.
Những đóng góp to lớn của Deming trong lĩnh vực thống kê vẫn còn ảnh hưởng cho tới nền kinh tế hiện đại. Suốt cuộc đời ông, ông đã bảo vệ cho niềm tin rằng lý thuyết thống kê cho thấy rằng toán học, sự phán xử, kiến thức thực tiễn được kết hợp chung với nhau trong công việc sẽ đem lại nhiều thuận lợi. Ông là bậc thầy của ngành lôgich học và là kiến trúc sư của thống kê học.
William Edwards Deming mất vào ngày 20/12/1993.
Theo VNnet

Nhà quản lý hiện đại cần có những phẩm chất gì?



Ngày nay, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra nhiều thách thức cho các quốc gia. Trong đó việc xây dựng một đội ngũ các nhà quản lý hiện đại có tầm vóc quốc tế là một yêu cầu cực kỳ quan trọng. Các doanh nghiệp có tầm hoạt động toàn cầu là nền tảng cốt lõi của các doanh nghiệp . Câu hỏi đặt ra: những phẩm chất/ kỹ năng cần có ở một nhà quản lý hiện đại là gì? Bài viết này sẽ giới thiệu 7 phẩm chất cần có đối với một nhà quản lý hiện đại.

1. Quản lý

Kỹ năng này bao gồm các kỹ năng về hoạch định, tổ chức và điều hành doanh nghiệp, và tổ chức công việc cá nhân. Hoạch định là quá trình thiết lập các mục tiêu, xây dựng các chiến lược và kế hoạch để thực hiện các mục tiêu. Trong quá trình này, nhà quản lý phải dự kiến được các khó khăn, trở ngại, những biến động của môi trường kinh doanh và có những kế hoạch dự phòng.

Hoạch định có xa và gần. Xa là tầm nhìn về con đường phát triển của doanh nghiệp trong dài hạn với câu hỏi chính: “Doanh nghiệp trong 5, 10 và 20 năm tới sẽ như thế nào?”.

Xu thế toàn cầu hóa có ảnh hưởng rất mạnh đến câu hỏi này. Không còn có thể giới hạn câu trả lời trong phạm vi một ngành và một quốc gia, mà đã đến lúc phải định vị nó trong bối cảnh cạnh tranh và hợp tác toàn cầu. Hoạch định gần là những kế hoạch ngắn hạn như từng tháng, quí, hay năm.

Khảo sát gần đây của chúng tôi trên 200 doanh nghiệp thuộc bốn ngành tại TP.HCM và Hà Nội cho thấy hầu hết đều có lập kế hoạch kinh doanh (KHKD) như một công cụ hoạch định. Nhưng phần lớn chỉ là hình thức, KHKD bị quên lãng ngay sau khi viết. Lúc này chính là vai trò của tổ chức và điều hành. Kỹ năng này bao gồm phân bổ công việc, tài nguyên, nhân sự và phối hợp thực hiện giữa các cá nhân, các nhóm và các tổ chức. Một kế hoạch hay sẽ vô nghĩa nếu nó không được tổ chức thực hiện nghiêm túc và hiệu quả.

Tuy nhiên, công việc chung sẽ không thể tổ chức tốt nếu công việc cá nhân không được tổ chức hiệu quả. Nhà quản lý hiện đại phải là người tổ chức tốt công việc và thời gian của chính mình. Cần phân bổ hợp lý các nguồn lực cá nhân cho các công việc sự vụ hàng ngày, đầu tư phát triển (học tập, nghiên cứu), thư giãn, gia đình và xã hội. Sự mất cân đối trong bố trí nguồn lực cá nhân sẽ làm giảm hiệu năng của nhà quản lý.

2. Lãnh đạo
Một nhà lãnh đạo tốt phải dám nhận trách nhiệm, đương đầu với những thử thách và chấp nhận thay đổi. Họ phải biết động viên nhân viên của mình bằng cách tạo ra môi trường làm việc tốt (thu nhập, sự hứng thú làm việc, các thử thách, sự an toàn trong công việc, các thăng tiến...), phải đưa ra các nhận xét (khen và phê bình) chính xác trên một tinh thần xây dựng. Khen và phê bình đúng lúc và đúng liều lượng có tác dụng động viên rất cao. Trên thực tế rất nhiều nhà quản lý không biết cách khen ngợi hay phê bình vì không vượt qua được bản thân hay để cho cảm tình cá nhân xen vào công việc.

Lựa chọn, hướng dẫn, phát triển và phân quyền cho nhân viên cũng là các kỹ năng quan trọng của một nhà lãnh đạo. Nhà lãnh đạo giỏi phải có các cộng sự giỏi để biến các kế hoạch của họ thành hiện thực.

3. Ứng xử và giao tiếp

Kỹ năng này đòi hỏi sự tinh tế, linh hoạt và kiến thức cũng như kinh nghiệm xã hội của nhà quản lý. Mục tiêu của kỹ năng này là nâng cao sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau trên cơ sở nhận diện và công nhận các giá trị và nhu cầu của các đối tượng giao tiếp. Công nhận và chia sẻ các giá trị và thành tựu của người khác hoàn toàn không phải là việc đơn giản dù giá trị đó là của cấp dưới hay đồng nghiệp, hoặc cấp trên.

Đây là cơ sở quan trọng của giao tiếp, xử lý mâu thuẫn và thương lượng.

4. Truyền thông

Gửi và nhận thông tin rõ ràng, chính xác, đầy đủ và hiệu quả là yêu cầu của kỹ năng này. Kỹ năng này bao gồm các kỹ năng về thông báo, nói, nghe và viết. Nhà quản lý phải có khả năng thông báo cho các cộng sự các sự kiện, quyết định, thay đổi một cách hiệu quả. Kỹ năng nói, thuyết phục và trình bày hiện nay được coi là kỹ năng truyền thông quan trọng bậc nhất của một nhà quản lý. Có ý tưởng nhưng không thuyết phục được người khác tin và làm theo thì chắc chắn sẽ thất bại. Mô hình các nhà quản lý “lẳng lặng mà làm” không còn chỗ đứng trong kinh doanh quốc tế. Cần ghi nhớ “im lặng là vàng nhưng lời nói đúng lúc là kim cương”.

Hiện nay vai trò của tiếng Anh là không thể phủ nhận. Các nhà quản lý quốc tế phải là người sử dụng thành thạo tiếng Anh trong giao tiếp truyền thông. Một điểm yếu mà nhiều nhà quản lý hay mắc phải là không biết lắng nghe. Nghe và chấp nhận sự khác biệt là yếu tố quan trọng của phát triển. Nói khó, nghe khó, nhưng viết còn khó hơn nữa. Viết cho đúng, thể hiện rõ ý tưởng và thuyết phục được người đọc là kỹ năng cần luyện tập thường xuyên. Bên cạnh việc truyền thông trong nội bộ doanh nghiệp, các nhà quản lý còn cần luyện tập các kỹ năng truyền thông công cộng như diễn thuyết, trả lời phỏng vấn, viết báo.

5. Tự động viên

Tự động viên là một kỹ năng rất cần thiết để luôn có tinh thần lạc quan và có cái nhìn tích cực đối với công việc của mình. Đừng chờ sự công nhận và động viên từ người khác, chính chúng ta phải là người đầu tiên nhìn thấy những điểm mạnh, những đóng góp, thành công của mình dù đó là những thành công nhỏ nhất.

Đôi khi thước đo quan trọng nhất chính là so với chính mình, mình đã làm tốt hết mức của mình chưa, mình đã thực lòng với mọi người chưa? Nếu câu trả lời là có, chúng ta có thể tự tin và đi tiếp con đường của mình. Đúng, sai, thị phi nhiều khi rất khó phân biệt nếu chúng ta chỉ sử dụng các thang đo - tiêu chuẩn của xã hội (người ngoài).

Nhà quản lý trưởng thành là người kết hợp thang đo của chính mình với thang đo của xã hội để có cái nhìn toàn diện. Lúc này đặt ra các tiêu chuẩn làm việc, các thang đo cho thành công cá nhân là những công việc cần làm. Nhà quản lý thành đạt luôn là người có những tiêu chuẩn cao và quyết tâm theo đuổi chúng, nhưng nếu chưa đạt được thì cũng không bi quan.

6. Kiến thức chuyên môn/nghề nghiệp
Có hai khối kiến thức mà mỗi nhà quản lý cần phải có. Một là kiến thức/kỹ năng chuyên môn cụ thể về nghề nghiệp. Hai là kiến thức tổng quát về doanh nghiệp, ngành, các hoạt động liên quan, kiến thức về môi trường kinh doanh, pháp lý, chính trị, kinh tế và xã hội, các kiến thức về môi trường kinh doanh quốc tế và các xu hướng phát triển chủ đạo. Cần lưu ý kiến thức là khái niệm động, nó luôn thay đổi, do đó nhà quản lý phải liên tục cập nhật và chủ động trong tích lũy kiến thức.

“Học tập suốt đời” đã trở thành một phẩm chất quan trọng của mỗi nhà quản lý. Học tập không nhất thiết từ nhà trường mà có thể từ tất cả mọi nơi như tự học, học từ bạn bè, học từ kinh nghiệm, học từ các khóa huấn luyện ngắn hạn... Hiện nay, văn hóa học tập trong các doanh nghiệp và doanh nhân ở VN ta chưa mạnh. Một số thì thiên về khoa cử bằng cấp, một số lớn khác thì chạy theo sự vụ hằng ngày mà bỏ bê việc tích lũy kiến thức.

7. Xử lý thông tin và năng lực tư duy

Tiếp nhận và xử lý thông tin một cách hiệu quả để có thể đưa ra những quyết định chính xác. Có 4 thành phần chính.

Một là kỹ năng phân tích vấn đề và ra quyết định. Nó bao gồm nhận dạng vấn đề, triệu chứng, nguyên nhân và xử lý các thông tin để đưa ra giải pháp chính xác trong thời gian ngắn nhất.

Hai là kỹ năng phân tích tài chính và định lượng. Các nhà quản lý phải có thể làm việc với các con số tài chính và có khả năng phân tích các con số này để phục vụ quá trình quản lý.

Ba là nhà quản lý phải có khả năng phát triển và sáng tạo các phương pháp giải quyết vấn đề mới cho chính mình và doanh nghiệp. Sáng tạo là phẩm chất quan trọng, nhưng nó không tự nhiên đến mà là kết quả của một quá trình học hỏi, quan sát và tư duy liên tục.

Bốn là khả năng xử lý các chi tiết. Thông tin rất nhiều và đa dạng, để xử lý hiệu quả nhà quản lý phải biết chọn lọc các thông tin quan trọng, giữ được các khuynh hướng chính nhưng không mất đi các chi tiết cần thiết, cân đối giữa toàn cục và thành tố.

Danh ngôn bất hủ của những nhà quản lý nổi tiếng thế giới?


 Những nhà quản lý nổi tiếng họ đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp khoa học quản lý của thế giới và để lại những câu danh ngôn bất hủ. Ở bài viết này sưu tầm 30 câu danh ngôn của những nhà quản lý nổi tiếng thế giới để các bạn tham khảo. Hy vọng sẽ phần nào giúp ích cho công việc quản lý hiện nay của bạn.

1. Tài sản quý nhất của các doanh nghiệp chính là con người (Matsushita Kōnosuke- ông tổ của phương thức kinh doanh kiểu Nhật)

2. Cách dùng người hiệu quả không phải ở chỗ làm mọi cách để hạn chế nhược điểm, điều quan trọng hơn chính là phải biết cách phát huy những ưu điểm của họ (Peter Ferdinand Drucker- nhà quản lý nổi tiếng thế giới)

3. Sự khác biệt giữa một nhà quản lý giỏi với người khác chính là biết cách dùng người ( Peter Ferdinand Drucker- nhà quản lý nổi tiếng thế giới)

4. Tạo người trước khi tạo vật (Matsushita Kōnosuke- ông tổ của phương thức kinh doanh kiểu Nhật)

5. Một công ty muốn phát triển được nhanh thì phải giỏi trong việc tìm ra nhân tài, đặc biệt là những nhân tài thông minh (Bill Gate)

6. Nếu như công ty bạn là một chiếc xe, hãy mời những người thích hợp lên xe và những người không thích hợp xuống xe ( James C.Collins- nhà quản lý)

7. Nhân tài chính là nguồn lợi nhuận cao nhất có được, một công ty có thể “kinh doanh” tốt nhân tài thì công ty đó trước sau gì cũng thắng lợi (Liễu Truyền Chí- Chủ tịch hội đồng quản trị công ty máy tính Lenovo)

8. Chất lượng là sự bảo đảm tốt nhất lòng trung thành của khách hàng (Jack Welch -cựu Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc General Electric)

9. Thế kỷ 20 là thế kỷ của tăng trưởng sản xuất, thế kỷ 21 là thế kỷ của chất lượng (Joseph M. Juran- Nhà quản lý chất lượng nổi tiếng của Mỹ)

10. Chất lượng bằng lợi nhuận ( Tom Peters- Nhà quản lý chất lượng)

11. Chất lượng sản phẩm được định hình trong quá trình sản xuất chứ không phải là trong quá trình kiểm nghiệm (William Edwards Deming- cha đẻ của quản lý chất lượng tại Mỹ)

12. Thành công của một công ty, xí nghiệp là dựa vào cả một tập thể chứ không chỉ là dựa vào chỉ một cá nhân (James C.Collins- nhà quản lý)

13. Hợp tác chính là nguồn gốc của sự phồn thịnh (Bob Barr- chủ tịch đảng Tự Do của Mỹ)

14. Không ngừng sáng tạo thì sẽ không sợ bị diệt vong (Henry Ford- người sáng lập Công ty Ford Motor)

15. Sáng tạo chính là con đường đi duy nhất của một công ty lớn (Nhà quản lý Geoffrey Chaucer)

16. Khách hàng là khởi nguồn của mọi sáng tạo (Nhà quản lý Tom Peters)

17. Không giỏi lắng nghe những âm thanh khác nhau, đó là nhược điểm lớn nhất của một nhà quản lý (Nữ quản lý nổi tiếng của Mỹ- Mary Kay )

18. Cứ 100 doanh nghiệp hoặc công ty trên thế giới lâm vào tình cảnh phá sản thì có đến 85% trong số đó do chính sách quản lý của người đứng đầu mà ra (Rand- Công ty tư vấn nổi tiếng thế giới)

19. Một quyết sách chính xác đến từ một trí tuệ thông thái (Nhà quản lý Tom Peters)

20. Do dự, không quyết định có thể tránh được một số sai lầm những cũng làm mất đi nhiều cơ hội khác (Liễu Truyền Chí- Chủ tịch hội đồng quản trị công ty máy tính Lenovo)

21. Không nên đặt tất cả số trứng bạn có vào cùng một cái rổ (James Tobin- nhà kinh tế học của Mỹ)

22. Nắm bắt thời cơ và nhanh chóng hoạt động chính là chìa khóa thành công cho mọi doanh nghiệp hiện đại (James C.Collins- nhà quản lý)

23. Quản lý là một tình yêu nghiêm khắc (Peter Ferdinand Drucker- nhà quản lý nổi tiếng)

24. Luôn đặt con người ở vị trí số 1 và tôn trọng nhân viên chính là chìa khóa thành công của những nhà quản lý (Thomas J. Watson Jr- nguyên chủ tịch tập đoàn IBM)

25. 20% thành công của doanh nghiệp nằm ở quyết sách và 80% còn lại là hành động (Siêu nhân Châu Á- Lý Gia Thành)

26. Điểm tựa cho mọi hoạt động của công ty chính là kỷ luật (Siêu nhân Châu Á- Lý Gia Thành)

27. Dự phòng là phương pháp tốt nhất của giải quyết nguy cơ (Michael Jeter- Chuyên gia quản lý của Anh quốc)

28. Không chỉ biết khen ngợi những thành công, mà còn phải biết khen ngợi những thất bại ( Jack Welch -cựu Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc General Electric)

29. Nếu bạn không cân bằng được nó thì sẽ không quản lý được nó (Nhà quản lý nổi tiếng Peter Ferdinand Drucker)

30. Yêu quý nhân viên một lần thì họ sẽ yêu gấp 100 lần công ty của bạn ( Danh ngôn của giới doanh nghiệp Pháp)

AI ĐÃ LÀM THAY ĐỔI DIỆN MẠO KHOA HỌC CHẤT LƯỢNG THẾ GIỚI? Phần I

Trên thế giới loài người, không có sự thay đổi nào bỗng dưng tự xảy ra một cách vô cớ. Nó xảy ra bởi có ai đó xuất hiện cùng những thách thức và khiến mọi người phải suy nghĩ theo nhiều cách khác nhau. Thế giới chất lượng chắc hẳn có người thay đổi cuộc chơi, có sáu chuyên gia hàng đầu về khoa học chất lượng, những người đã góp phần làm thay đổi diện mạo của chất lượng trên thế giới. Đó là W. Edwards Deming, Philip B. Crosby, Armand V. Feigenbaum, Kaoru Ishikawa, Joseph M. Juran, và Walter A. Shewhart. Ở bài viết này xin giới thiệu trước hai chuyên gia hàng đầu được nhắc tới nhiều nhất đó là W. Edwards Deming và Philip B. Crosby. Bài viết này được tập hợp dựa trên các bài viết đăng trên tạp chí Quality Progress của Hội Chất Lượng Mỹ (ASQ) mới đây.

W. Edwards Deming (1900-1993)
Không có ví dụ nào tiêu biểu về niềm tin và sự cống hiến của W. Edwards Deming cho chất lượng hơn sự đóng góp của ông trong thế chiến thứ hai. Khi những cuộc chiến ác liệt diễn ra, ông đã giúp xây dựng năng lực sản xuất. Điều này đã đưa nước Mỹ đến chiến thắng. Nhưng khi hòa bình trở lại và các tập đoàn Mỹ phớt lờ những cảnh báo của ông về chất lượng, ông đã mang những kiến thức của mình vượt Thái Bình Dương và tặng cho người Nhật thông qua việc truyền bá những công cụ cần thiết để giúp tái thiết lập lại xã hội.
Vào năm 1942, khi chiến tranh thế giới có dấu hiệu ác liệt hơn, một nhóm các công ty nỗ lực áp dụng thuyết thống kê vào sản xuất thời chiến. Thế là người ta tìm đến Deming, người cùng với Walter Shewhart, đã đặt nền móng cho việc kiểm soát chất lượng bằng công cụ thống kê.
Để hỗ trợ hơn nữa những nỗ lực trong chiến tranh, Deming đã tạo ra một chương trình dành cho các kỹ sư và những người đóng góp cho việc sản xuất thời chiến những kiến thức cần thiết để áp dụng thuyết thống kê vào công việc của họ. Điều này mang đến lợi thế quý báu cho nước Mỹ trong chiến tranh nhưng nó lại nhanh chóng bị quên lãng trong thời bình bởi vì, theo Deming nhận thấy, kiến thức của ông chỉ hỗ trợ cho những kỹ sư thay vì những nhà quản lý, những người có quyền quyết định.
Năm năm sau chiến tranh, vào tháng 5/1950, Deming đến Tokyo để giảng dạy về phương pháp thống kê theo yêu cầu của Liên hiệp các nNhà Khoa Học và Kỹ Sư Nhật Bản (JUSE). Sau hai đến ba ngày, ông nhận thấy rằng ông có nguy cơ lặp lại những sai lầm giống như khi ông ở Mỹ, vì vậy ông đề nghị Chủ tịch JUSE mời 45 nhà quản lý tới tham dự một buổi họp đặc biệt. Họ phải mất một đêm để nhận ra được giá trị trong thông điệp của Deming và thậm chí còn yêu cầu nhiều hơn nữa. Trong khi đó Mỹ đã phải mất gần bốn thập kỷ để nhận thức được điều này.
Năm 1980 - 38 năm sau những đóng góp đầu tiên của ông trong cuộc chiến của Mỹ - Deming đã thực hiện 18 chuyến đi Nhật Bản. Vào năm đó, NBC đã phát sóng phim tài liệu, "Nếu Nhật Bản có thể, tại sao chúng ta lại không thể?" và cho thấy khoảng cách giữa chất lượng sản phẩm hàng hóa của Nhật và của Mỹ. Cuốn phim này cũng chỉ rõ những phương pháp của Deming đã được áp dụng ở một vài công ty Mỹ sau khi họ đã tìm kiếm sự giúp đỡ của ông, trong số đó có cả General Motors và Ford.
Hai năm sau đó, Deming đã giới thiệu 14 điểm trong quản lý mà ông cho rằng, "có một mục đích: giúp mọi người làm việc với niềm vui." Họ đã quảng cáo trong cuốn sách Chất lượng, Năng suất và Vị trí cạnh tranh của ông. Cuốn sách này đã được ông sửa lại để cho ra đời ra tác phẩm nổi tiếng có nhan đề là Thoát khỏi khủng hoảng.
Vào năm 1993, Deming qua đời tại nhà riêng của ông ở thành phố Washington, D.C., sau khi đã kịp gửi cho toàn thế giới cuốn sách cuối cùng của ông "Nền kinh tế mới". Trong cuốn sách này, ông đã giới thiệu hệ thống kiến thức uyên thâm của mình mà ông gọi là "sơ đồ các lý thuyết để hiểu những tổ chức nơi mà chúng ta làm việc."
Trong số những đóng góp khác của Deming có thử nghiệm chuỗi hạt đỏ. Nó chỉ ra rằng cách duy nhất để cải thiện một sản phẩm hay dịch vụ là các nhà quản lý phải cải tiến hệ thống; thử nghiệm cái phễu, thử nghiệm này mô tả tầm quan trọng của việc hiểu các biến tố (Ông ca ngợi điều này ở Lloyd S. Nelson); và chu trình Deming (Lập kế hoạch - Thực hiện - Học hỏi - Hành động), nó cũng chính là một biến thể của chu trình Shewhart (Lập kế hoạch - Thực hiện - Kiểm tra - Hành động.)
Trích lời Deming
  • "Chất lượng là trách nhiệm của tất cả mọi người."
  • "Làm hết sức mình là chưa đủ. Bạn phải biết làm cái gì, rồi sau đó hãy làm hết sức."
  • "Nếu bạn không thể mô tả việc đang làm như một quá trình, bạn sẽ không biết được mình đang làm gì "
  • "Không cần thiết phải thay đổi. Tồn tại không phải là bắt buộc."
  • "Sai sót không hề miễn phí. Người ta làm sai và phải trả giá vì đã làm ra chúng."
  • "Không có gì thay thế cho kiến thức."
  • "Người điều hành công ty trên những con số nhìn thấy được thì sớm muộn gì cũng không có cả công ty lẫn những con số để làm việc."
  • "Nhiệm vụ của người quản lý không phải là giám sát, mà là lãnh đạo."
Philip B. Crosby (1926-2001)
Philip B. Crosby bắt đầu tham gia vào lĩnh vực chất lượng vào năm 1952 khi kết thúc những năm tháng phục vụ trong quân đội ở Hàn Quốc. Trong gần năm thập kỷ sau đó, ông trở nên nổi tiếng trong giới kinh doanh như một bậc thầy trong lĩnh vực quản lý chất lượng. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc "Thực hiện đúng ngay từ đầu ", trình bày sơ đồ về quản lý chất lượng trong phương pháp 14 bước của ông và từ đó đã xây dựng nên bốn khía cạnh cơ bản của chất lượng.
Nhưng trong số những thành tựu đạt được, có lẽ Crosby nổi tiếng nhất vì đã đề xướng ra tiêu chuẩn về mô hình hoàn hảo dựa vào khái niệm về hệ thống không sai lỗi - Zero Defect (ZD).
Crosby bắt đầu ý tưởng này tại Orlando, FL, nhà máy của Martin Marietta (hiện nay được biết đến là Lockheed Martin) vào năm 1962, và là nhà quản lý chất lượng của chương trình tên lửa Pershing, ông nhận thấy rằng khái niệm này đã làm giảm tổng tỷ số loại bỏ tới 25% và giảm trừ phí tổn đến 30%. Cuối cùng, khái niệm này cũng được áp dụng rộng rãi ở các tổ chức khác.
"Ở bất kỳ nơi nào nó xuất hiện, tỉ lệ lỗi đều giảm đi, tinh thần làm việc được nâng cao, và có cảm giác gặt hái thành công," Crosby viết. "Những ý tưởng nhằm ngăn chặn các sự cố đều xuất phát từ một nhóm."
Tuy nhiên cũng có người chỉ trích ý tưởng này, họ cho rằng tiêu chuẩn này không thể đạt được và rằng khoản phí tổn nhằm thực hiện nỗ lực này là vô cùng lớn. Nhưng Crosby tin tưởng rằng quan điểm nói trên hình thành dựa trên một quan niệm sai lầm: "Việc mong muốn con người trở nên hoàn thiện có hợp lý không?…Có lẽ là không. Tuy nhiên khái niệm không sai lỗi - Zero Defect (ZD) lại không hề mang ý tưởng về sự hoàn thiện. Nó có nghĩa rằng: Thực hiện đúng theo nguyên tắc mà bạn đã thỏa thuận và luôn làm đúng ngay từ đầu".
Cuối cùng, Crosby cũng mang theo tham vọng về sự hoàn hảo đến Tập đoàn điện thoại và điện báo quốc tế (ITT), nơi ông đã dành 14 năm làm việc ở cương vị Phó tổng giám đốc phụ trách chất lượng của tập đoàn trước khi sáng lập nên Hiệp hội Philip Crosby (PCA) và bắt đầu chuyển sang giai đoạn tư vấn trong sự nghiệp của ông.
Năm 1979, năm cuối cùng của ông ở ITT, Crosby viết công trình nghiên cứu chuyên đề của mình, Chất lượng là thứ cho không (Quality Is Free). Công trình này đã trình bày 14 bước cải tiến. Cũng trong năm này ông được bầu làm Chủ tịch thứ 30 của Hiệp hội Chất lượng Mỹ (ASQ). Sau đó 5 năm, ông đã đưa ra khái niệm tích hợp về hệ thống không sai lỗi - Zero Defect (ZD) vào bốn khía cạnh của chất lượng. Bốn khía cạnh này được đề cập cụ thể trong cuốn sách Quality Without Tears và đã được khái quát vai trò của hoạt động quản lý trong việc tạo ra một tổ chức luôn coi chất lượng làm trọng tâm.
Crosby giữ vững vị trí là nhà tư tưởng về chất lượng lỗi lạc trên thế giới cho đến khi ông qua đời năm 2001, nhưng qua PCA, những bài giảng của ông đã giúp nhiều nhà lãnh đạo của những công ty hàng đầu thế giới như General Motors, Motorola, Xerox và Hewlett - Packard trong việc hoạch định, quản lý.
Hy vọng rằng những nhà lãnh đạo tập đoàn luôn ghi nhớ những câu nói của Crosby: "Là người quản lý, bạn có nghĩa vụ liên tục đòi hỏi cải tiến chất lượng trong hoạt động của công ty mình, cho dù là trong lĩnh vực tài chính hay đối với một cửa hàng buôn bán máy móc. Bạn có bổn phận tạo ra hình ảnh người lãnh đạo có tầm nhìn, suy nghĩ thấu đáo và đầy sáng tạo. Những thứ bạn bỏ ra chính là những thứ bạn nhận được."
Trích lời Crosby
  • "Chất lượng là thứ cho không. Nó không phải là món quà, nhưng nó miễn phí. Những thứ làm ra phải tiêu tốn tiền bạc mà không có chất lượng đều liên quan đến nguyên nhân là do không thực hiện đúng công việc ngay từ đầu."
  • "Tại sao phải tốn thời gian để tìm hiểu, sửa chữa và tranh cãi khi bạn có thể ngăn chặn rắc rối ngay từ đầu ?"
  • "Đó không phải là việc bạn tìm được gì, mà chính là bạn làm gì với thứ tìm được."
  • "Quản lý chất lượng là cần thiết bởi vì không có gì là đơn giản, nếu quả thực vậy thì nó đã đơn giản rồi."
  • "Những điều tốt đẹp chỉ xảy ra khi có kế hoạch; những điều xấu thì tự nó đến."
  • "Khách hàng xứng đáng được nhận chính xác những gì chúng ta đã hứa - một căn phòng sạch sẽ, một cốc cà phê nóng, một vỏ bọc không xốp, một chuyến đi lên mặt trăng bằng đôi cánh mỏng nhẹ như tơ."

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Top WordPress Themes